Xuyên không thập niên 70
Chương 12: Đề án trên bãi bồi phù sa
Tiếng bánh xe đạp miết trên mặt đường sỏi lạo xạo còn chưa dứt, Chủ nhiệm Bùi Đắc Khoát đã chùi vội những giọt mồ hôi đang túa ra ròng ròng trên trán. Chiếc áo sơ mi bốn túi màu cỏ úa dán chặt vào lưng ông, ướt đẫm một mảng lớn. Cây bút máy Kim Tinh gài nơi miệng túi lay qua lắc lại theo từng nhịp thở dốc nặng nề.
“Bác Khoát, bác cứ bình tĩnh uống ngụm nước chè đã!” An vội vàng bước tới bên chõng tre, rót một bát nước chè xanh sóng sánh màu mật le rót ra từ chiếc tích ủ trong giỏ bọc rơm, hai tay đưa sang cho vị chủ nhiệm.
Ông Khoát xua tay lia lịa, nhưng cổ họng khát khô cháy bỏng khiến ông không nhịn được, đành bưng bát nước tu một hơi ừng ực. Đặt chiếc bát sứt mép cạch một tiếng xuống mặt chõng, ông giơ mu bàn tay quệt ngang miệng, giọng run rẩy:
“Uống làm sao cho trôi hả cô An! Đồng chí Bí thư Huyện ủy và Trưởng phòng Nông nghiệp huyện đánh điện báo trước cả tuần, chiều nay đúng một giờ ba mươi sẽ về thẳng ủy ban xã. Cấp trên yêu cầu An Hòa phải trình được phương án sản xuất cây màu vụ đông để huyện chọn làm xã điểm toàn vùng tả ngạn sông Đáy. Thế mà lúc trưa trờ trưa trật này, hai ông Cự với ông Thược lại kéo cả ban chỉ huy Đội 1, Đội 2 lên đập bàn đập ghế. Các ông ấy dứt khoát không chịu nhận cày cấy ngoài bãi Soi, bảo đất ấy mùa này sương muối xuống là cháy rụi, gieo ngô chỉ có nước ném công điểm của xã viên xuống sông Đáy!”
Trần Bình đứng bên cạnh, dáng người cao lớn sừng sững như một cây lim già nơi đầu làng. Anh khẽ cau mày, đôi mắt cương nghị nheo lại nhìn về phía bóng nắng gắt gao đang rọi xuống rặng tre ven ngõ. Vết thương nơi bắp chân anh mới kéo da non sau đợt hộ đê cống Vực, dẫu còn đôi chút nhức nhối khi trái gió trở trời nhưng những bước chân đã vững vàng, không còn cần đến chiếc gậy tre chống đỡ.
“Bác Khoát,” Bình trầm giọng, âm sắc bình thản mà dứt khoát, “Đội 1 với Đội 2 ngại khó vì bao năm nay họ chỉ quen cấy lúa nước hai vụ chiêm mùa, chưa từng làm chủ được kỹ thuật trồng màu bãi bồi lúc sang đông. Mười lăm mẫu đất bãi Soi phù sa đợt lũ vừa rồi bồi thêm dày cả gang tay, màu mỡ như thế mà để cỏ lau mọc hoang thì có tội với trời, có lỗi với bát cơm của bà con xã viên. Bác để cháu và An sang trụ sở ngay bây giờ.”
An nhìn Bình, bắt gặp ánh mắt kiên định của anh chiếu sang mình. Trong đáy mắt người đàn ông dạn dày sương gió ấy không có lấy một chút hoang mang, chỉ có niềm tin tuyệt đối dành cho cô và tinh thần dám chịu trách nhiệm của người lính cụ Hồ. Cô khẽ gật đầu, vớ lấy chiếc nón lá treo bên cột hiên, lòng bàn tay bất giác chạm vào chiếc vòng bạc gia truyền mà u Mẫn vừa trao tặng lúc sáng đang nằm gọn nơi cổ tay áo nâu sồng.
“Đi thôi bác Khoát, chúng ta sang đình. Việc đâu còn có đó, có phương án rõ ràng thì cấp trên hay bà con xã viên đều sẽ nghe ra thôi.” Giọng An trong trẻo, điềm tĩnh lạ thường, như một liều thuốc an thần làm dịu bớt vẻ mặt đang tái ngắt vì lo sợ của ông Khoát.
Chiếc xe đạp Phượng Hoàng của chủ nhiệm Khoát lại lục cục lăn bánh dẫn đường. Bình dắt chiếc xe Thống Nhất cũ kỹ chở An bám sát phía sau. Mặt trời trưa đứng bóng rọi xuống con đường liên thôn rải đá dăm, hơi đất ngai ngái bốc lên nồng nặc. Trên các bờ rào râm bụt, tiếng ve sầu muộn màng của cuối thu kêu ra rả, hòa lẫn cùng tiếng kẻng réo rắt báo hiệu giờ nghỉ trưa của các xóm nghèo. Nhưng ở đình An Hòa — nơi đặt văn phòng Ban quản trị Hợp tác xã nông nghiệp — không khí lại sục sôi như một chảo thắng cố đang sôi trào trên bếp than hồng.
Mới bước qua bậc thềm đá xanh rêu phong của cổng đình, An đã nghe thấy tiếng đập bàn chát chúa vang ra từ gian tiền tế.
“... Tôi nói cho các đồng chí biết! Đội 1 chúng tôi năm nay gánh chỉ tiêu lúa mùa nặng nhất xã, sức người có hạn, trâu bò thì gầy trơ xương sau đợt lụt! Mười lăm mẫu bãi Soi ấy đất cát pha, vừa bết bùn lại vừa lạnh buốt chân. Năm ngoái trồng thử hai sào ngô vàng, sương muối tháng Một quét qua một đêm là lá quắt queo như chổi xể, hạt lép kẹp không đủ nuôi đàn gà! Giờ huyện ép chỉ tiêu vụ đông, xã lại muốn đổ lên đầu các đội. Chúng tôi thà chịu phạt thi đua, chứ không để xã viên bỏ công bỏ buổi ra phơi rét rồi cuối vụ lĩnh về toàn rơm rác!”
Đó là tiếng của ông Cự, Đội trưởng Đội 1. Ông Cự trạc ngũ tuần, người gầy gò khắc khổ, đôi mắt sâu hoắm dưới hàng lông mày rậm rạp, trên tay cầm chiếc điếu bát bằng gốm hoa lam cáu bẩn bồ hóng, ngón tay run run vì tức giận.
Ngồi bên chiếc bàn gỗ mộc kê sát cột lim là ông Thược, Đội trưởng Đội 2. Ông Thược béo lùn, mặc chiếc áo trấn thủ rách mép, đang dùng chiếc đóm nứa châm lửa hút thuốc lào sòng sọc, nhả một luồng khói xanh đặc quánh làm mờ cả tấm bảng khẩu hiệu “Không có gì quý hơn độc lập tự do” treo trên tường vách đất.
“Đúng đấy đồng chí Khoát!” Thấy bóng ông Khoát bước vào, ông Thược nhổ toẹt bãi nước đóm xuống nền gạch Bát Tràng, phụ họa ngay: “Đội 2 chúng tôi cũng chung quan điểm. Giống má thì khan hiếm, kho Đầm Lội vừa ngập nước xong, số ngô sấy ở lò gạch cũ nghe đâu chỉ vớt vát được mấy phần, lấy đâu ra giống tốt mà rải khắp mười lăm mẫu? Xã viên người ta đang nhốn nháo đòi chia rơm rạ đan rổ sảo kiếm thêm đồng ra đồng vào độn sắn qua ngày, ai chịu lội bùn bãi sông giữa gió bấc hun hút? Tôi đã làm sẵn biên bản kiến nghị bỏ hoang bãi Soi vụ này rồi, Ban quản trị ký vào để lát nữa báo cáo Huyện ủy, giải trình là do thiên tai lũ lụt khách quan!”
Trong gian đình rộng thênh thang, hơn mười cán bộ chủ chốt của Ban quản trị, từ kế toán, thủ kho, trưởng ban kiểm soát đến các tổ trưởng sản xuất đều ngồi im thin thít. Không khí ngột ngạt đến mức chỉ nghe thấy tiếng rít thuốc lào và tiếng gió thổi xào xạc qua tàn cây đa cổ thụ ngoài sân. Mọi người đều hiểu, nhận vụ đông là nắm dao đằng lưỡi; nếu được mùa thì chẳng ai khen ngợi bao nhiêu, nhưng nếu mất mùa, công điểm bị cào bằng thụt lùi, tiếng chửi rủa của hàng trăm miệng ăn sẽ trút sạch lên đầu Ban quản trị.
Chủ nhiệm Khoát mặt mũi méo xệch, nhìn tờ giấy biên bản kiến nghị viết bằng mực tím lem nhem đặt trên bàn như nhìn thấy một hòn than nóng.
Đúng lúc ấy, một giọng nói trầm hùng, sang sảng cất lên phá tan bầu không khí u ám:
“Các đồng chí Đội 1 và Đội 2 không dám nhận, thì để toàn bộ mười lăm mẫu bãi Soi ấy cho Đội sản xuất số 3 chúng tôi gánh vác!”
Mọi ánh mắt trong đình đồng loạt đổ dồn về phía cửa. Trần Bình sải bước bước qua ngưỡng cửa bức bàn cao bằng gỗ lim. Anh đứng thẳng, vai rộng ngực nở, ánh mắt sắc sảo quét qua một lượt những gương mặt đang lộ vẻ bàng hoàng. Bên cạnh anh, Hoài An lặng lẽ bước vào, chiếc nón lá cầm trên tay để lộ gương mặt thanh tú, đôi mắt sáng ngời toát lên vẻ thông tuệ và tự tin hiếm có.
Ông Cự khựng lại, chiếc tẩu đóm trên tay suýt rơi xuống đất. Ông ta nhíu mày, cười khẩy một tiếng đầy mỉa mai:
“Kìa, đồng chí Đội trưởng Đội 3! Nghe nói chân đồng chí vừa khỏi khập khiễng, Đội 3 lại vừa được nhận cờ thi đua của Ty Nông nghiệp nên hăng hái quá nhỉ? Đồng chí có biết mười lăm mẫu đất bãi bồi nó rộng chừng nào không? Bằng cả nửa diện tích canh tác hoa màu của cả xã An Hòa này đấy! Đội 3 các anh chỉ có hơn bốn chục lao động, trâu cày được ba con dặt dẹo, lấy cái gì mà cày xới, lấy giống ở đâu mà gieo, hay lại tính hô khẩu hiệu suông để rồi đến tháng Chạp cả làng cùng nhau nhai đất sét?”
“Tôi không hô khẩu hiệu!” Bình bước tới trước bàn làm việc, hai tay chống xuống mặt gỗ, nhìn thẳng vào mắt ông Cự. “Là người lính đã từng vào sinh ra tử ở chiến trường, tôi biết tấc đất tấc vàng là như thế nào. Ngày ở Quảng Trị, chúng tôi chia nhau từng nắm cơm mốc, từng hạt ngô rang để giữ chốt. Nay về hậu phương, đất đai màu mỡ phù sa sông Đáy dâng lên tận miệng mà vì sợ rét, sợ cực nhọc rồi bàn nhau ký giấy bỏ hoang, thì mặt mũi nào nhìn vào sự hy sinh của đồng đội, nhìn vào bao nhiêu gia đình liệt sĩ, thương binh đang thiếu ăn từng bữa trong xã này?”
Lời nói đanh thép, chất chứa sự cương trực và uất nghẹn của người lính khiến ông Cự tím mặt, ngắc ngứ không cãi lại được câu nào. Không khí trong đình bỗng chốc chùng xuống. Những cán bộ trẻ tuổi đưa mắt nhìn Bình với vẻ kính nể lộ rõ.
Tuy nhiên, ông Thược vẫn không chịu thua. Vốn là người lọc lõi, tính toán chi ly từng cân thóc công điểm, ông ta nhếch mép hừ một tiếng:
“Đồng chí Bình nói đạo lý thì hay lắm! Nhưng sản xuất nông nghiệp là chuyện hạt thóc củ khoai, là mồ hôi nước mắt chứ không phải ra chiến hào hô xung phong là lúa ngô tự mọc! Anh bảo Đội 3 nhận, tôi hỏi anh: Hạt giống ở đâu ra? Đất bãi cát pha sau lũ rất nhanh khô nứt nẻ nhưng chân dưới lại lạnh ngắt, rễ ngô ăn xuống gặp tầng đất lạnh là thối nhũn. Anh lấy gì chống sương muối? Rồi phân bón ở đâu? Hợp tác xã phân bổ đợt phân đạm U-rê vừa rồi Đội 3 đã dùng hết cho diện tích mạ mùa muộn rồi, đào đâu ra đạm hóa học mà thúc cho mười lăm mẫu ngô bãi bồi? Anh trả lời thông suốt được những điều ấy trước mặt Ban quản trị và đồng chí Bí thư Huyện ủy chiều nay đi rồi hãy nhận bừa!”
Câu hỏi hóc búa của ông Thược đánh trúng vào điểm mấu chốt nhất. Ông Khoát đứng bên cạnh cũng toát mồ hôi hột, ái ngại nhìn Bình. Những khó khăn đó là có thật, trần trụi và khắc nghiệt như chính mùa đông đất Bắc.
Bình không vội đáp. Anh quay sang nhìn An, khẽ gật đầu, nhường lại vũ trường tri thức cho người con gái mà anh hết lòng tin cậy.
An bước lên một bước. Cô không hề có vẻ rụt rè của một người con gái nông thôn thường thấy khi đứng trước đám đàn ông cán bộ xã. Động tác của cô khoan thai, mực thước. Cô đặt chiếc nón lá lên góc bàn, đưa mắt nhìn quanh gian đình, rồi dừng lại ở tấm bảng đen dùng để ghi công điểm treo trên cột.
“Thưa Ban chủ nhiệm, thưa các đồng chí Đội trưởng,” giọng An vang lên rõ ràng, mạch lạc, trầm ấm mà đầy sức thuyết phục. “Những lo lắng của bác Cự và chú Thược hoàn toàn có cơ sở thực tế từ những vụ mùa trước đây. Nhưng đó là khi chúng ta canh tác theo lối độc canh cây ngô truyền thống, phó mặc cho thời tiết và trông chờ vào lượng phân hóa học hữu hạn của nhà nước. Vụ đông năm nay, Đội 3 chúng tôi xin đề xuất một phương án hoàn toàn mới: Canh tác xen canh ngô hạt phục hồi kết hợp với đậu tương đông theo mô hình luống đôi, rãnh sâu.”
Cả hội trường xôn xao. Ông Cự trố mắt nhìn An, tặc lưỡi:
“Cô An này, cô đừng có đem mấy cái chữ nghĩa viễn vông ra mà dọa chúng tôi! Đất trồng một cây ngô còn sợ không đủ màu, cô lại đòi nhét thêm cây đậu tương vào tranh ăn với ngô, có mà chết chùm cả lũ!”
An mỉm cười nhẹ nhàng, không hề tỏ ra phật ý trước lời ngắt lời thô lỗ ấy. Cô cầm lấy mẩu phấn trắng cài trên khay bảng, nhanh thoăn thoắt vẽ lên nền bảng đen vài nét vẽ hình học chuẩn xác:
“Bác Cự nói cây đậu tương tranh ăn với ngô, nhưng thực tế đất đai lại vận hành theo quy luật khác. Hồi tôi còn đi thanh niên xung phong ở vùng bãi bồi ven sông, các cụ nông lão giàu kinh nghiệm đã đúc kết: cây họ đậu là giống cây 'trả ơn cho đất'. Các đồng chí nếu nhổ một gốc đậu tương lên rửa sạch bùn đất, sẽ thấy ở chùm rễ của nó có chi chít những nốt sần nhỏ như hạt tấm hạt đỗ. Người xưa gọi là mụn rễ, nhưng thực chất những mụn rễ ấy chứa đựng sự kỳ diệu của đất trời: chúng có khả năng bắt lấy khí đạm tự nhiên trong không khí chuyển hóa thành chất màu bồi bổ trực tiếp cho đất. Cây đậu tương không những không tranh phân của cây ngô, mà rễ của nó còn nhả ra chất đạm tự nhiên để nuôi sống cây ngô bên cạnh!”
An vừa nói vừa dùng phấn vạch rõ khoảng cách từng luống trên bảng đen:
“Chúng ta sẽ lên luống đôi: khoảng cách giữa hai hàng ngô là bảy mươi phân, và ngay giữa hai hàng ngô ấy, chúng ta gieo một hàng đậu tương đông. Giống đậu tương này có chu kỳ sinh trưởng ngắn, chỉ hơn bảy mươi ngày. Khi cây ngô vươn cao cần nhiều chất dinh dưỡng để trổ cờ phun râu, thì rễ đậu tương đã bắt đầu cố định đạm mạnh nhất để cấp dinh dưỡng cho ngô. Như vậy, chúng ta giải quyết được bài toán thiếu phân đạm U-rê mà không tốn một đồng ngân sách nào của hợp tác xã!”
Các cán bộ trong đình bắt đầu xích lại gần bảng đen, mắt dán chặt vào những hình vẽ luống ngô, luống đậu sinh động mà An đang phác họa. Ngay cả ông Thược cũng ngừng rít thuốc lào, chăm chú lắng nghe.
“Thế còn sương muối và cái rét nàng Bân cuối năm thì sao?” Một ủy viên kiểm soát rụt rè cất tiếng hỏi. “Ngô bãi sông sợ nhất là gió bấc lùa thốc từ lòng sông lên làm cháy ngọn.”

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…