Xuyên không thập niên 70
Chương 13: Lá đơn thẩm tra thời bao cấp
Sau buổi đầu giờ chiều căng thẳng nghẹt thở, chiếc xe U-oát phủ đầy bụi đỏ của đoàn cán bộ Huyện ủy rời khỏi cổng đình An Hòa trong tiếng máy gầm giòn giã. Bản báo cáo đề án xen canh ngô và đậu tương trên mười lăm mẫu bãi Soi do chính Hoài An trình bày — với từng thông số tính toán tỉ mỉ, mô hình luống đôi chống úng rét và minh chứng sống động từ những mầm ngô lai khỏe khoắn nảy mầm sau lò sấy — đã hoàn toàn thuyết phục được đồng chí Bí thư Huyện ủy. Quyết định phê duyệt nóng ngay tại chỗ không chỉ đập tan những e dè, toan tính bàn lùi của Đội 1 và Đội 2, mà còn trao trọn quyền chủ động canh tác vụ đông cho Đội sản xuất số 3.
Thế nhưng, khi làn khói xăng mỏng manh vừa tan vào triền đê sông Đáy, một cuộc chiến khác, âm thầm nhưng gay gắt không kém, đã lập tức bủa vây lấy An và Trần Bình. Lời đe dọa cay nghiệt của bà Phó Tươi trước gốc gạo cổ thụ vẫn còn như nhát chém chém vào không khí. Không chần chừ, Bình quyết định dắt An sang ngay bộ phận Hộ tịch - Tư pháp của xã để nộp hồ sơ xin đăng ký kết hôn, quyết tâm hợp thức hóa danh phận trước khi bước vào chiến dịch gieo cấy đầu đông.
Gió heo may cuối thu thổi thốc qua rặng xoan đầu làng, cuốn theo những chiếc lá vàng khô lạo xạo trên mặt đường đất thịt. Nắng hanh vàng như mật mía trải dài trên những mái rạ bạc phếch và triền đê, nhưng cái hanh hao của đất trời miền Bắc độ tháng Chín âm lịch năm 1977 không làm vơi bớt không khí ngột ngạt đang đặc quánh lại bên trong trụ sở ba gian của Ủy ban Hành chính xã.
Nơi góc bàn gỗ lim mòn vẹt vì hàng chục năm tiếp dân, Hoài An ngồi ngay ngắn trên chiếc ghế băng thô mộc. Trước mặt cô là hai tờ giấy bã mía màu vàng ngà, mép giấy hơi xơ tơ do cắt thủ công bằng thước kẻ và dao lam. Đó là bản “Tờ khai lý lịch ba đời xin kết hôn” do chính tay Bình và cô cặm cụi nắn nót viết suốt hai đêm bên ngọn đèn hoa kỳ leo lét. Từng dòng chữ mực tím Cửu Long thẳng tắp, đều đặn, ghi rõ từ thành phần cốt cán bần cố nông của nhà họ Trần, đến truyền thống Nho học nghèo sạch của cụ giáo Khiêm, cùng toàn bộ quá trình tòng quân chiến đấu của Bình và những năm tháng phục vụ hỏa tuyến của An trong lực lượng thanh niên xung phong.
Trần Bình ngồi cạnh cô, vai thẳng tắp như cột nhà cháy. Chiếc áo sơ mi bảo hộ màu cỏ úa đã sờn cổ nhưng được anh vuốt phẳng phiu, cài khuy cẩn thận đến tận cổ áo. Bàn tay to bè, chằng chịt vết chai sạn vì báng súng và chuôi cuốc của anh đặt ngay ngắn trên đầu gối, chốc chốc lại khẽ nghiêng sang, dùng mu bàn tay chạm nhẹ vào gấu áo bà ba nâu của An như một lời trấn an thầm lặng.
Đối diện với hai người qua chiếc bàn làm việc chất đầy công văn đóng tập bằng dây chuối là ông Trương Văn Bản — cán bộ phụ trách tư pháp và hộ tịch kiêm Ủy viên Thường vụ Đảng ủy xã. Ông Bản trạc năm mươi, khóe mắt sâu hoắm, cặp kính lão một bên gọng đã gãy phải quấn dây chỉ cước trắng quanh vành tai. Ông cầm xấp giấy lý lịch lên, đưa sát lại gần cặp kính, lật từng trang chậm rãi đến mức chỉ nghe thấy tiếng sột soạt khô khốc của giấy rơm và tiếng rít thuốc lào từ chiếc điếu bát đặt dưới chân bàn.
“Đồng chí Trần Bình, thương binh hạng ba, phục viên cuối năm 1975, Đảng viên chính thức, Đội trưởng Đội sản xuất số 3... Lý lịch gia đình bần nông, u Mẫn là hội viên Hội mẹ chiến sĩ, ba đời trong sạch, không vướng bận nợ máu hay liên quan tề ngụy.” Ông Bản lẩm bẩm đọc, khẽ gật đầu vẻ hài lòng. Nhưng khi mắt ông dừng lại ở tờ khai của An, đôi lông mày hoa râm chợt nhíu chặt lại.
“Nguyễn Hoài An... Sinh năm 1955, cựu thanh niên xung phong Đoàn 559, phục viên cuối năm 1976. Thành phần gia đình: Trí thức tiểu tư sản cũ, bố là giáo viên trường làng... Chỗ này này.” Ngón tay trỏ vàng khè vì khói thuốc của ông Bản gõ nhẹ lên mặt giấy bã mía. “Thành phần gia đình trí thức, tuy cụ giáo Khiêm có tham gia dạy bình dân học vụ sau Cách mạng tháng Tám, nhưng trước năm 1954 cụ từng dạy chữ Nho và chữ Pháp cho con em hương hào trong tổng. Về mặt nguyên tắc xét duyệt kết hôn cho cán bộ, Đảng viên, khâu thẩm tra lý lịch chính trị phải tuyệt đối chặt chẽ. Chưa kể...”
Ông Bản dừng lại, ngước nhìn An qua tròng kính lão lem nhem vết ố:
“Cách đây một tiếng, bên Hội Phụ nữ xã đã gửi giấy sang. Đồng chí Phó Tươi đại diện Ban Chấp hành Phụ nữ có ý kiến bảo lưu bằng văn bản, đề nghị tạm hoãn việc chứng thực chữ ký của đồng chí An để đưa ra kiểm điểm, bình xét tác phong lối sống và tư tưởng kinh tế trong buổi sinh hoạt toàn thể chiều nay.”
Bình nghe vậy, sắc mặt đanh lại như thép nguội. Anh chống tay xuống mép bàn gỗ lim, giọng trầm vang rành rọt:
“Báo cáo đồng chí Bản! Tôi với cô An đến đây nộp đơn theo đúng quy định của Nhà nước về luật hôn nhân và gia đình. Về lý lịch, gia đình cụ giáo Khiêm cả làng An Hòa này ai cũng biết là nhà nho thanh bạch, anh trai cô An là liệt sĩ Hoài Nam hy sinh ở mặt trận Đắk Tô năm 1972, bản thân cô An có ba năm cống hiến thanh xuân nơi bom đạn tuyến lửa đường Trường Sơn, đã nhận Huân chương Kháng chiến hạng Ba. Những cống hiến bằng xương máu ấy chẳng lẽ chưa đủ chứng minh lòng trung thành với chế độ hay sao? Còn chuyện tác phong lối sống, đội viên Đội 3 chúng tôi ăn chung một nồi, cày chung một thửa ruộng, cô An sống chan hòa, chí công vô tư thế nào ai cũng rõ. Đồng chí Phó Tươi lấy tư cách gì mà đòi ngăn chặn quyền kết hôn chính đáng của chúng tôi?”
Ông Bản thở dài một tiếng, đặt xấp hồ sơ xuống mặt bàn gỗ, giọng chùng xuống có phần thông cảm nhưng đầy tính nguyên tắc của một cán bộ quen nếp quản lý thời chiến:
“Đồng chí Bình, cậu nóng tính quá. Cậu là Đảng viên, từng là Trung đội trưởng trên chiến trường, cậu phải hiểu cái lý của tổ chức. Nước mình vừa thống nhất chưa lâu, tình hình muôn mặt còn bộn bề, tàn dư tư tưởng cũ chưa quét sạch, mà đất nước lại bước vào giai đoạn cách mạng mới. Chi bộ Đảng xã An Hòa quản lý cán bộ phải gương mẫu từ ngọn rau tấc đất cho đến chuyện vợ chồng. Hội Phụ nữ là một tổ chức đoàn thể nòng cốt. Họ có quyền và có trách nhiệm giám sát hội viên của mình. Nếu đồng chí Phó Tươi đã có ý kiến chính thức bằng văn bản, Ủy ban không thể nhắm mắt đóng dấu ngay được. Muốn hồ sơ này được Chi bộ và Ủy ban thông qua trong buổi họp tối nay, chiều nay đồng chí An bắt buộc phải qua được cửa ải bình xét của Hội Phụ nữ.”
An khẽ kéo nhẹ tay áo Bình, ra hiệu cho anh nén giận. Cô ngẩng đầu nhìn thẳng vào mắt ông Bản, ánh mắt trong trẻo, điềm tĩnh không chút gợn sóng:
“Cháu hiểu rồi ạ. Cảm ơn chú Bản đã giải thích cặn kẽ. Việc tổ chức thẩm tra, xem xét hạnh kiểm đoàn viên là quy trình tập thể cần thiết. Chiều nay cháu sẽ có mặt ở nhà kho Hợp tác xã dự buổi sinh hoạt phụ nữ để nghe ý kiến đóng góp của các dì, các chị.”
Ông Bản nhìn nét mặt bình thản, chững chạc lạ thường của cô gái trẻ, trong lòng thầm nể nang một phần. Ông khẽ gật đầu:
“Được thế thì tốt. Cậu mợ cứ về chuẩn bị tư tưởng. Nhớ là phải bình tĩnh, dĩ hòa vi quý, đừng để xảy ra xô xát làm mất tình đoàn kết nội bộ.”
*
Đầu giờ chiều, khoảng sân gạch trước nhà kho lớn của Hợp tác xã An Hòa chật kín bóng áo nâu sồng và nón lá. Đây là buổi sinh hoạt định kỳ của Hội Phụ nữ xã kết hợp với việc bình xét công điểm nữ công quý ba. Hơn bốn mươi phụ nữ từ ba đội sản xuất ngồi túm tụm trên những đống rơm khô hoặc những chiếc đòn gánh đặt ngang, người cầm kim đan len sợi phế phẩm, người tranh thủ se từng sợi đay làm dây thừng, tiếng rì rầm bàn tán rộn rã như vỡ tổ ong.
Ở gian giữa nhà kho, dưới tấm khẩu hiệu bằng vải đỏ căng ngang mang dòng chữ quét vôi trắng: “Phụ nữ ba đảm đang — Vững tay cày, chắc tay súng, thi đua sản xuất giỏi”, bà Phó Tươi đã ngồi sẵn bên chiếc bàn con kê tạm. Bà ta mặc chiếc áo cánh màu mỡ gà mới giặt còn nguyên nếp gấp, tóc vấn trần để lộ đôi hoa tai bằng đồng mắt cua. Trước mặt bà ta là cuốn sổ bìa cứng bọc giấy nhật trình cũ kỹ và một chiếc bút máy Trường Sơn cắm ngập trong lọ mực Cửu Long.
Khi An bước vào sân kho, tiếng ồn ào bỗng chốc lắng xuống. Hàng chục ánh mắt đổ dồn về phía cô gái mảnh mai trong bộ quần áo lao động màu xanh công nhân bạc màu, mái tóc tết lệch buông lơi bên bờ vai gầy. An điềm đạm bước đến chào các bà, các chị lớn tuổi rồi chọn một góc mép thềm gạch ngồi xuống cạnh chị Đặng Thị Đượm.
Chị Đượm vội vàng kéo An ngồi sát vào lòng mình, bàn tay mũm mĩm đầy vết nứt nẻ vì ngâm nước ruộng bấm mạnh vào bắp tay An, thì thào đầy lo lắng:
“Mày cẩn thận đấy An ạ. Trưa nay tao đi gánh phân qua ngõ nhà mụ Tươi, thấy mụ ấy ngồi với mấy mụ đàn bà bên Đội 1 to nhỏ cay cú lắm. Mụ ấy bảo phen này quyết bẻ gãy cái nanh sắc của mày, cho mày biết thế nào là lộng quyền qua mặt cán bộ. Mày có cần tao đỡ lời cho không?”
An khẽ lắc đầu, mỉm cười kín đáo:
“Chị cứ để em. Em không làm gì khuất tất, cây ngay không sợ chết đứng đâu chị.”
“E hèm!”
Một tiếng hắng giọng thật to vang lên từ phía bàn chủ tọa cắt đứt mọi lời xì xào. Bà Phó Tươi đứng dậy, cầm chiếc thước kẻ gỗ gõ côm cốp xuống mặt bàn, đảo mắt một vòng khắp lượt rồi dừng lại trừng trừng vào mặt An.
“Các chị em trật tự để hội nghị bắt đầu!” Giọng bà Phó Tươi the thé, the thé như tiếng kéo rỉ sét miết trên tôn rách. “Hôm nay, sau khi phổ biến chỉ thị của Huyện hội về phong trào thi đua tiết kiệm lương thực chuẩn bị cho vụ đông, chúng ta có một việc hệ trọng liên quan đến công tác tư tưởng và đạo đức lối sống của cán bộ, đội viên nữ. Đó là việc xét duyệt tư cách đạo đức và hạnh kiểm của cô Nguyễn Hoài An, đội viên Đội sản xuất số 3, trước khi Ban Chấp hành Hội Phụ nữ có ý kiến gửi lên Đảng ủy và Ủy ban xã về lá đơn xin đăng ký kết hôn với đồng chí Đội trưởng Trần Bình!”
Tiếng xì xào lại rộ lên râm ran. Mấy bà có tuổi ở Đội 2 chép miệng:
“Gớm, con bé An nó ngoan ngoãn, lại giỏi giang thế, cứu cả kho thóc giống hôm bão lũ, vừa trưa nay còn được Huyện ủy khen ngợi nức nở, có cái gì mà phải đem ra bêu riếu giữa bàn dân thiên hạ thế này?”
Bà Phó Tươi quắc mắt nhìn về phía góc vừa phát ra tiếng nói, lập tức dập tắt những lời dị nghị. Bà ta lật giở cuốn sổ tay, hất hàm nhổ toẹt bãi nước trầu đỏ lòm ra góc sân, rồi cao giọng:
“Tập thể chúng ta không phủ nhận công lao của bất kỳ ai, nhưng công là công, mà tội là tội! Phong cách của người phụ nữ xã hội chủ nghĩa là phải chí công vô tư, khiêm tốn, giản dị, tuyệt đối không được có tư tưởng làm ăn cá thể, đầu cơ tích trữ hay dựa dẫm vào cán bộ để mưu cầu tư lợi! Thế mà thời gian qua, cô An đây đã có những biểu hiện hết sức lệch lạc về mặt tư tưởng!”
Bà Phó Tươi chỉ thẳng ngón tay trỏ đeo chiếc nhẫn đồng bóng loáng vào trán An:
“Thứ nhất! Trong đợt bão lũ vừa rồi, toàn xã đang tập trung sức người sức của để hộ đê, cô An lại tự tiện đem số lượng lớn vôi bột và đặc biệt là bột kháng sinh Sulfamid màu trắng ra để băng bó vết thương cho đồng chí Bình và xử lý mầm bệnh kho giống. Tôi hỏi cô: Thời buổi chiến tranh vừa dứt, thuốc men của Nhà nước còn quý hơn vàng, một viên Clorocid trạm xá xã còn phải chia đôi cho người ốm nặng uống, lấy đâu ra cả bọc bột Sulfamid nguyên chất như thế cho cô dùng tùy tiện? Có phải cô đã cậy thế từng là thanh niên xung phong, bớt xén tiêu chuẩn quân y của đơn vị mang về làm của riêng hay không? Đây là hành vi chiếm đoạt tài sản công hay là đầu cơ buôn lậu thuốc tây?”
Một gáo nước lạnh tạt thẳng vào danh dự khiến cả sân kho nín bặt. Tội danh “bớt xén quân nhu” hay “buôn lậu thuốc tây” thời kỳ này là cực kỳ nghiêm trọng, nhẹ thì bị tước quyền công dân đưa đi cải tạo, nặng thì bị truy tố trước tòa án quân sự.
Chưa dừng lại ở đó, bà Phó Tươi thừa thắng xông lên, giọng càng lúc càng gay gắt, the thé:
“Thứ hai! Đội 3 các người vừa rồi tự ý đào mương, đắp luống ở chân bãi Soi, lại còn bày trò ủ trấu mục, gom phân trâu phân bò khắp đường làng ngõ xóm về chứa đầy góc vườn nhà mình. Ban ngày làm việc cho hợp tác xã thì uể oải, chiều tối lại thậm thụt rủ rê nhau ra ruộng phần trăm tăng gia, biến đất đai công cộng thành của riêng! Cô An chưa về làm dâu nhà người ta mà tối nào cũng sang nhà đồng chí Bình đến tận khuya khoắt mới về, lén la lén lút trao đổi cái gì? Đó là tác phong gì? Đó là tư tưởng làm ăn tự do vô tổ chức, có dấu hiệu hồi phục lối sống cá thể của giai cấp tiểu tư sản! Một người có tư tưởng và lối sống mập mờ như thế, Hội Phụ nữ chúng tôi làm sao dám đặt bút chứng nhận tư cách đạo đức để cô bước chân vào hàng ngũ dâu thảo rể hiền của dòng họ cách mạng như nhà đồng chí Bình?”
Những lời lẽ quy chụp cay độc, hiểm hóc tuôn ra như tên bắn khiến bầu không khí trong sân kho ngột ngạt đến nghẹt thở. Vài ba cán bộ nữ thân tín của bà Phó Tươi bắt đầu gật gù phụ họa, buông ra những lời bóng gió mỉa mai.
Hoài An vẫn ngồi thẳng lưng trên mép thềm gạch. Đôi bàn tay cô đặt ngay ngắn trên vạt áo, từng ngón tay thon dài đan vào nhau ghì chặt để kiềm chế cơn giận dữ đang dâng trào trong lồng ngực. Cô hít sâu một hơi, mùi bùn non ngai ngái từ lòng sông Đáy theo gió đưa vào khoang mũi giúp cô lấy lại sự tỉnh táo tuyệt đối của một người từng trải qua hàng chục hội đồng khoa học thế kỷ 21.
Cô hiểu rất rõ, đối mặt với những kẻ giáo điều và ghen ăn tức ở như bà Phó Tươi, nổi nóng là tự sát. Phải dùng lý lẽ thép, chứng cứ thật và đánh trúng vào lòng trắc ẩn của số đông mới có thể lật ngược thế cờ.
An thong thả đứng dậy, bước lên một bước trước hàng chục ánh mắt đang nín thở chờ đợi. Ánh mắt cô nhìn thẳng vào đôi mắt ti hí của bà Phó Tươi, không hề né tránh, giọng nói vang lên trong trẻo, khúc chiết, từng câu từng chữ rành rẽ lọt vào tai từng người:
“Báo cáo đồng chí Phó Chủ tịch Hội Phụ nữ xã. Báo cáo toàn thể các bà, các mẹ, các chị em.”
Cô hơi cúi đầu chào tập thể một cách mực thước rồi tiếp tục:

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…