Xuyên không thập niên 70

Chương 18: Mầm sống dưới bóng chuối

Trần Bình dựng chiếc xe đạp Thống Nhất cũ vào hiên nhà, tháo chiếc xẻng bộ binh đeo bên hông xuống. Nhìn thấy An đang ngồi bệt bên mép hố, một tay ôm lấy cổ tay bên kia khẽ xoa nắn, gương mặt thanh tú thoáng vẻ nhăn nhó, bước chân anh lập tức sải dài nhanh hơn. Đôi dép cao su đúc bốn quai bước thình thịch qua khoảng sân gạch mọc đầy rêu xanh.

“Sao thế mình? Cuốc phải đá à?”

Bình quỳ một bên gối xuống nền đất lạnh, giọng nói trầm ấm chất chứa sự xót xa không hề che giấu. Anh vội vã buông chiếc xẻng thép xuống đống cỏ gấu vừa nhổ, đưa bàn tay to bản, thô ráp đầy những vết chai sần đỡ lấy bàn tay mảnh dẻ của An. Những ngón tay cô lạnh ngắt vì gió bấc, lòng bàn tay đỏ rực lên, gân xanh nơi cổ tay vẫn còn giật giật nhè nhẹ vì phản lực kinh người vừa dội lại.

An ngước nhìn chồng, cố nén cơn tê buốt đang chạy dọc sống tay, khẽ mỉm cười trấn an:

“Không phải đá đâu anh. Em vừa bổ nhát cuốc thứ hai xuống để xem tầng đất dưới... Ai ngờ bên dưới lớp tro bếp này là cả một khối đất sét chai cứng như sắt nguội. Lưỡi cuốc bàn bổ xuống nảy đanh tanh tách, suýt nữa thì văng khỏi tay em.”

Bình quay sang nhìn chiếc cuốc bàn nằm chỏng chơ bên cạnh. Đầu lưỡi cuốc bằng sắt rèn đã bị mẻ một mảnh li ti, trên mặt đất chỉ để lại một vệt cào trắng bệch dài chưa đầy nửa đốt ngón tay. Anh nhặt chiếc xẻng bộ binh lên. Đó là chiếc xẻng công binh dã chiến của Liên Xô, cán gỗ sồi ngắn ngủn nhưng lưỡi thép năm góc vát nhọn được tôi luyện đen bóng, mép xẻng mài sắc lẹm từng cùng anh đào công sự, bạt núi khoét hầm suốt những năm tháng khói lửa ở chiến trường miền Đông.

Bình đứng dậy, dồn toàn bộ sức nặng của thân hình vạm vỡ và bờ vai rộng, cắm phập mũi xẻng xuống ngay cạnh vết cuốc của An.

Kịch!

Lưỡi thép tốt như vậy mà cũng chỉ ngập sâu được chừng hai đốt ngón tay rồi khựng lại, phát ra âm thanh tức tối như đâm vào một tấm gỗ lim ngâm bùn trăm năm. Bình nghiến răng, dùng gót ủng dận thêm hai phát thật mạnh, mũi xẻng mới bập sâu thêm được một chút. Anh gồng cơ bắp cuồn cuộn nơi cánh tay, bẩy mạnh một mảng đất lên.

Một tảng đất sét màu xám chì pha lẫn ánh xanh nhờ nhờ của quặng sắt bị khử vỡ ra. Khối đất đặc quánh, mịn lì, không có lấy một bọt khí hay một sợi rễ cỏ nào có thể len lỏi qua nổi.

“Đúng là đất chai rồi,” Bình thở dài, quệt vệt mồ hôi vừa rịn ra trên trán dù gió lạnh đang thổi thốc qua rặng tre. “Mảnh vườn này từ ngày u chuyển về đây sau trận lụt năm bảy mốt hầu như bỏ hoang. Đất thịt phù sa trôi hết ra sông, u chỉ biết cào tro trấu trong bếp đổ ra, dẫm đi dẫm lại bao năm thành ra thế này. Đất thế này thì tra hạt đỗ, hạt ngô nào xuống cũng thối mầm hết thôi mình ạ. Hay là để tôi ra bãi sông gánh đất màu về đổ lên?”

“Gánh đất màu làm sao xuể được hai sào vườn hả anh?” An lắc đầu, ánh mắt sáng lên nét kiên định của người làm khoa học. “Hai sào đất, nếu muốn đổ một lớp đất mặt dày hai mươi phân để rễ cây ăn được thì phải cần đến cả trăm chuyến xe bò, hàng ngàn gánh đất. Sức người có hạn, lại đang giữa vụ đông rét mướt thế này, gánh xong đất thì người cũng kiệt sức.”

Cô đứng dậy, phủi nhẹ bụi đất bám trên gấu quần lụa đen, đưa tay đón lấy tảng đất sét lạnh buốt trên tay Bình, bóp nhẹ:

“Đất rắn đến đâu thì cũng phải chịu thua rễ cây và con giun, con dế. Đây là tầng đế cày bị nén dẽ cực đoan do thiếu chất hữu cơ và bị kiềm hóa vì tro bếp. Càng dùng sức người đập phá cơ học thì đất càng nhanh nát vụn thành bụi chết. Muốn trị nó, ta phải dùng sinh học, lấy mềm buộc chặt.”

Bình tròn mắt nhìn vợ, trong ánh mắt lộ rõ vẻ thán phục lẫn tò mò:

“Dùng sinh học là sao hả mình? Giun dế thì đào đâu ra giữa mùa đông khô khốc thế này?”

An nhoẻn miệng cười, nụ cười rạng rỡ xua tan đi cái ảm đạm của buổi chiều đông xám xịt:

“Thì vợ chồng mình đi tìm chúng về! Em quan sát rồi, rãnh mương dẫn nước thải từ giếng làng chảy qua chân rặng tre sau bến Đầm quanh năm có lá tre mục và bùn ẩm, chỗ ấy chắc chắn có giống trùn quế, giun khoang bản địa đang trú đông. Chúng ta sẽ bắt chúng về, lập một khu ủ mùn sinh học ngay dưới bóng rặng chuối tiêu sau chuồng lợn kia. Có giun cày xới ngày đêm, lại thêm rơm rạ mục và phân chuồng hoai, chỉ vài tháng nữa thôi, chính đàn giun sẽ khoan thủng cái tầng đất sét chai cứng này thành đất xốp như bột bánh khảo!”

Nhìn dáng vẻ tự tin, rành rẽ từng đường đi nước bước của An, bao mệt mỏi và lo âu trong lòng Bình bỗng chốc tan biến. Anh nắm chặt cán xẻng, cười rạng rỡ:

“Được! Miễn là mình tính, việc nặng nhọc cứ để tôi lo. Đi, tôi xách xô mang xẻng đi theo mình bắt giun!”

Hai vợ chồng xắn cao gấu quần quá gối. Bình xách theo chiếc xô tôn gỉ ngoặc và chiếc xẻng bộ binh, An cầm chiếc bay nhỏ và một manh bao tải gai ẩm. Họ men theo bờ rào cúc tần dẫn ra rãnh nước ngầm sau làng.

Gió đông bắc rít từng cơn lạnh buốt qua những ngọn tre gai, nhưng không khí lao động lại nóng lên từng phút. Rãnh mương sau bến Đầm nước cạn trơ đáy, phủ đầy một lớp lá tre rụng dày cộp đã mục nát, bốc lên mùi ngai ngái nồng đậm của mùn hữu cơ tự nhiên. Bình không để An bước xuống bùn lạnh, anh tự mình xắn quần lội xuống rãnh mương ngập tới bắp chân, dùng lưỡi xẻng bộ binh hớt từng mảng bùn lẫn lá mục hất lên bờ đất khô ráo cho cô.

“Kìa anh, chỗ này nhiều lắm!” An reo khẽ, ngồi xổm trên bờ, đôi tay thoăn thoắt bới lớp bùn đen xốp.

Dưới lớp lá tre hoai mục ẩm ướt, từng búi giun khoang màu đỏ tía, thân to bằng cọng rơm, khoanh tròn từng đoạn đang cuộn tròn trốn rét. Đó là giống giun đất bản địa khỏe khoắn, sức ăn tạp vô cùng mãnh liệt. An cẩn thận nhặt từng con thả vào chiếc xô tôn đã lót sẵn một lớp bùn lá ẩm, động tác nâng niu như thể đang thu thập những hạt giống quý giá nhất.

Bình nhìn An tỉ mỉ nhặt từng con sâu đất, không hề có chút e dè hay sợ sệt bẩn thỉu như những cô gái thành thị hay cán bộ trên huyện về thực tế, lòng anh dâng lên một niềm cảm phục và yêu thương vô bờ. Anh hăng hái vung xẻng, bới hết mảng bùn này đến mảng bùn khác. Đến khi bóng chiều bắt đầu ngả sang màu tím thẫm trên dòng sông Đáy, đáy xô tôn đã lúc nhúc hàng ngàn con giun khoang khỏe mạnh, béo múp míp.

Về đến nhà, An lập tức chỉ huy Bình bắt tay vào dựng “ngôi nhà” cho đàn giun. Nơi được chọn là khoảnh đất râm mát quanh năm dưới bóng bụi chuối tiêu rậm rạp sau chuồng lợn cũ. Chuối tiêu tán rộng che chắn gió bấc cực tốt, lại giữ được độ ẩm tự nhiên của đất.

Bình dùng xẻng đào một hố nông dài chừng hai mét, sâu khoảng hai gang tay. An gom những tàu lá chuối khô đã rụng quanh gốc, xé nhỏ ra lót một lớp dày dưới đáy hố để giữ ẩm và ngăn giun bò trốn xuống tầng đất sét bên dưới. Tiếp đó, cô rải một lớp phân lợn cũ đã hoai mục mà u Mẫn gom trong góc chuồng từ năm ngoái, tưới lên một ít nước vo gạo ấm rồi mới cẩn thận trút toàn bộ số giun khoang vừa bắt được vào giữa. Đàn giun gặp môi trường phân hoai và mùn ẩm lập tức ngọ nguậy, nhanh chóng chui sâu vào bên dưới lớp lá. Trên cùng, An phủ thêm một lớp rơm rạ ẩm tơi xốp để giữ nhiệt.

“Thế này là xong tổ ấm cho chúng rồi,” An thở phào, đứng thẳng người vươn vai. “Mỗi ngày chỉ cần tưới chút nước rửa rau, đổ bã vỏ củ sắn hay rơm vụn vào đây, giun sẽ ăn phân và rác mục rồi thải ra loại phân trùn màu mỡ nhất trần đời. Khi đàn giun sinh sôi nảy nở gấp năm, gấp mười lần, ta sẽ đem rải chúng ra từng luống vườn. Chúng sẽ thay chiếc cuốc sắt của anh, tự động cày xới tầng đất sét kia từ sáng đến đêm mà không biết mệt mỏi.”

Bình nhìn khoảnh đất vừa được phủ rơm phẳng phiu dưới gốc chuối, trong mắt lấp lánh niềm hy vọng. Anh gật đầu lia lịa:

“Hay thật đấy mình ạ. Đúng là người có học có khác, biến rác rưởi với mấy con giun đất thành thợ cày thợ cuốc. Nhưng mà này mình, đàn giun này phải mất vài tháng mới cải tạo xong đất, thế còn mùa đông này vườn nhà mình lấy gì mà ăn? Chỉ tiêu lương thực tháng này xã vừa thông báo rồi, mỗi nhân khẩu chỉ được có tám cân rưỡi thôi, lại độn thêm hai phần ba sắn lát mốc.”

Câu hỏi thực tế của Bình chạm đúng vào nỗi trăn trở canh cánh trong lòng An suốt mấy ngày qua. Cô nhìn sang góc sân, nơi đống rơm rạ ướt vớt được từ kho đầm Lội sau đợt lũ tháng Tám đang được dựng thành một cây rơm nhỏ để phơi hanh.

Những cọng rơm này đã bị ngâm nước lũ, tuy đã được phơi khô lại nhưng đã ngả sang màu vàng xỉn của rơm cũ, sợi rơm mềm oặt, đem đun bếp thì nhiều khói mà cho trâu ăn thì trâu chê vì nhạt thếch. Nhưng trong mắt một kỹ sư công nghệ sinh học như An, đây lại là một mỏ vàng dinh dưỡng khổng lồ đang bị bỏ quên.

“Chúng ta sẽ trồng nấm rơm, anh ạ!” An dứt khoát nói.

Bình giật thót mình, mắt trợn tròn:

“Trồng nấm? Nấm rơm ấy à? Xưa nay tôi chỉ nghe người ta đi hái nấm mối, nấm tràm trên rừng hay nấm mọc hoang ở đống rơm mục sau cơn mưa rào mùa hè, chứ nấm mà cũng trồng được như trồng rau ư? Lại còn giữa mùa đông rét căm căm thế này?”

“Trồng được chứ anh!” An mỉm cười giải thích, giọng đầy cuốn hút. “Rơm rạ bản chất là chất xơ xen-lu-lô, chính là thức ăn khoái khẩu của hệ sợi nấm. Đợt lũ vừa rồi làm rơm bị ẩm mục dở dang, sợi rơm đã mềm ra, rất dễ tiêu hóa. Chỉ cần mình biết cách xử lý nhiệt độ và độ ẩm, tạo cho nó một tiểu khí hậu ấm áp thì mùa nào nấm cũng mọc được. Thịt nấm rơm vừa ngọt, vừa giàu đạm chẳng kém gì thịt lợn, lại có thể thu hoạch chỉ sau mười lăm đến hai mươi ngày!”

Đúng lúc đó, cánh cửa liếp mở cọt kẹt, bà cụ Mẫn chống gậy bước ra hiên. Nghe loáng thoáng câu chuyện của hai con, gương mặt già nua đầy những nếp nhăn của bà thoáng vẻ thảng thốt. Bà bước vội xuống sân, đôi bàn tay gầy guộc run run vịn vào vai An:

“Chết thôi con ơi! Sao lại tính chuyện ăn nấm rơm bậy bạ thế? Xưa các cụ bảo nấm mọc ngoài đồng lắm thứ có độc, ăn vào sùi bọt mép, đứt ruột mà chết đấy con! Với lại đống rơm ấy u để dành mùa đông đun bếp nấu cám, sưởi ấm cho lợn, mang ra nghịch nhỡ hỏng hết thì lấy gì nhóm lửa hả con?”

An ân cần nắm lấy bàn tay khô ráp của mẹ chồng, nhẹ nhàng đỡ bà ngồi xuống chiếc ghế đẩu dưới bóng râm:

“U đừng lo. Nấm rơm trắng là loại nấm lành nhất trần đời, thơm ngọt bổ dưỡng lắm u ạ. Con đã học kỹ cách phân biệt và cấy meo nấm thuần chủng rồi, tuyệt đối không có nấm tạp hay nấm độc đâu. Còn rơm đun bếp thì u yên tâm, con chỉ xin u vài gánh rơm cũ đã bị mốc ẩm ở chân đống thôi. Số rơm này sau khi cho nấm ăn xong, nó mủn ra thành mùn mục, con lại đem bón cho luống rau thì tốt gấp mười lần tro bếp đấy u!”

Bình cũng bước lại gần, chen vào đỡ lời vợ:

“U cứ để nhà con làm thử xem sao u ạ. Nhà con học trường lớp bài bản, đợt trước cứu cả kho giống mười mấy tấn cho hợp tác xã, u thấy có sai tí nào đâu. Mình chịu đói mãi sao được, có thêm cây nấm nấu bát canh nóng mùa đông này thì quý hơn vàng đấy u.”

Nhìn ánh mắt kiên định của con trai và nét mặt chân thành, tự tin của cô con dâu hiền thục, bà cụ Mẫn thở dài một tiếng rồi gật đầu, hàm răng đen nhánh khẽ nở một nụ cười bao dung:

Đăng nhập để thả tim Đăng nhập để tương tác

Ủng hộ tác giả ai4
Mỗi lời động viên là động lực để tác giả tiếp tục sáng tác.

ai4

Tác giả của câu chuyện này · Hãy cùng ủng hộ những chương tiếp theo.

Đăng nhập để theo dõi

Bình luận chương 0

Đăng nhập để tham gia bình luận.

Đang tải bình luận…