Xuyên không thập niên 70
Chương 19: Men vi sinh bèo hoa dâu
Gió đông bắc rít từng cơn qua hàng rào dâm bụt trơ trụi lá, nhưng không khí trong khoảng sân gạch nhà Bình lúc này còn buốt giá và căng thẳng hơn cả ngọn gió ngoài đồng.
Bà cụ Mẫn mặt mày tái mét, hai bàn tay gầy guộc run rẩy bấu chặt vào mép vạt áo nâu chắp vá. Chiếc gậy tre rơi lăn lóc trên nền gạch, kêu một tiếng lộc cộc trơ trọi. Trong tâm thức của một bà lão cả đời lam lũ trải qua nạn đói năm bốn lăm rồi bao cuộc biến thiên, tiếng thét gầm của cán bộ cùng họng súng trường CKC bọc vải bạt kia chẳng khác nào bóng ma tai họa ập xuống mái nhà tranh vừa chớm ấm hơi người.
Bình không lùi nửa bước. Thân hình cao lớn, vạm vỡ như cây lim rừng của người lính phục viên đứng sừng sững, che chắn trọn vẹn bóng dáng An và u Mẫn ở phía sau. Ánh mắt anh không hề có chút bối rối hay hoảng hốt, chỉ có sự sắc lạnh, cương nghị của người từng đi qua mưa bom bão đạn ở chiến trường Tây Nam.
“Đồng chí Chi! Ăn có nơi, nói có chốn!” Giọng Bình trầm đục nhưng vang rền, từng âm tiết nện xuống sân gạch đanh gọn như tiếng búa gõ đe. “Đây là nhà của cựu chiến binh, thương binh thời chống Mỹ. Các đồng chí mang súng xông thẳng vào sân đập cổng, chưa chào hỏi lễ phép đã vội chụp mũ công dân bằng những tội danh tày đình. Ai cho phép các đồng chí làm cái việc lộng quyền ấy?”
Người đàn ông đeo băng đỏ tên Chi — Tổ trưởng tổ kiểm soát thị trường xã — thoáng khựng lại trước khí thế lấn lướt của Bình. Nhưng liếc sang bà Phó Tươi đang đứng cạnh nháy mắt ra hiệu, hắn lập tức ưỡn ngực, hất cằm, lấy giọng hống hách:
“Đồng chí Trần Bình, đừng có giở giọng công thần ra đây dọa dẫm! Chúng tôi thi hành nhiệm vụ theo đơn thư phản ánh của quần chúng nhân dân. Có người tố cáo đồng chí lợi dụng quyền hạn Đội trưởng Đội ba, trong đợt hộ đê chống lụt vừa rồi đã chỉ đạo đội viên dọn rơm rạ mục của hợp tác xã đem về chất đầy vườn nhà mình. Rơm rạ là tài sản phụ phẩm của tập thể, đem về ủ đống lớn thế kia, không phải để nấu rượu lậu trốn thuế thì là để làm cái gì? Chưa kể đây này!”
Ngón tay khẳng khiu như cành củi khô của hắn lại chĩa thẳng vào chiếc rổ sảo trên tay An:
“Nấm rơm trắng nõn thế kia, giữa mùa đông giá rét này đào đâu ra? Rõ ràng là các người dùng thủ đoạn đầu cơ lén lút, phát triển kinh tế cá thể tiểu tư sản, đi ngược lại đường lối tập thể hóa! Chúng tôi phải tịch thu toàn bộ tang vật, lập biên bản đưa về ủy ban xã xử lý!”
Bà Phó Tươi đứng phía sau bèn bước chéo lên nửa bước, cặp môi mỏng quẹt trầu thâm sì nhếch lên một nụ cười đắc chí, giọng the thé chọc ngoáy:
“Đấy, chú Chi thấy tôi nói có sai đâu! Nhà người ta cơm độn sắn còn chẳng có mà nuốt, trâu bò hợp tác xã còn run cầm cập vì thiếu rơm lót chuồng, thế mà nhà anh Bình rơm chất cao như núi, lại còn rửng mỡ trồng được cả rổ nấm béo múp míp. Rơm của tập thể chứ có phải rơm của ông bà đẻ ra đâu mà muốn khuân về là khuân? Anh Khoát chủ nhiệm nể anh là thương binh nên bỏ qua, chứ kỷ luật Đảng thì không có chuyện bao che đâu nhé!”
Từng lời cay độc của bà ta như muốn đổ thêm dầu vào lửa, khiến hai anh dân quân trẻ tuổi phía sau lúng túng nhìn nhau, tay giữ dây súng có phần ngập ngừng.
An thở hắt ra một hơi dài, lẳng lặng đặt chiếc rổ nấm xuống mặt chiếc chõng tre bên cạnh. Cô bước lên đứng ngang hàng với Bình, ánh mắt trong veo không gợn một tia sợ hãi, nhẹ nhàng nhìn thẳng vào mặt người tổ trưởng:
“Thưa đồng chí Chi, thưa bà Phó Tươi. Muốn kết tội người khác thì phải căn cứ vào luật lệ và giấy trắng mực đen, chứ không thể dùng sự suy diễn vu vơ để bôi nhọ danh dự của một đảng viên, một thương binh.”
Nói đoạn, cô quay sang nhìn Bình, khẽ gật đầu. Bình hiểu ý vợ, anh thọc tay vào túi áo ngực chiếc áo trấn thủ bạc màu, rút ra một cuốn sổ tay bìa bọc nylon đã sờn mép cùng một tờ giấy gập tư đóng dấu đỏ chói.
Bình giở tờ giấy ra, giơ thẳng trước mặt Chi:
“Đồng chí Chi, mắt đồng chí còn sáng thì đọc cho rõ! Đây là biên bản thanh lý phế phẩm sau trận lụt tháng Tám, do chính tay Chủ nhiệm Bùi Đắc Khoát và Kế toán trưởng hợp tác xã ký, có đóng dấu của Ban quản trị xã An Hòa!”
Bình dõng dạc đọc từng dòng chữ viết tay nắn nót mực xanh Cửu Long:
“‘Xét thấy sáu tấn rơm rạ đắp bờ vùng Đầm Lội bị ngâm nước lũ dài ngày, đã lên men mốc đen, tiềm ẩn nguy cơ lây lan nấm độc cho đàn trâu bò của xã, Ban quản trị giao cho Đội sản xuất số ba chịu trách nhiệm tiêu hủy hoặc tận dụng ủ phân cục bộ tại chỗ, tuyệt đối không đưa vào kho dự trữ tập thể để tránh lây nhiễm chéo’. Đội ba chúng tôi đã phân chia số rơm mục đó cho từng gia đình đội viên có nhu cầu làm phân lót, gia đình tôi nhận đúng phần chia theo nhân khẩu, ghi chép sổ sách công điểm trừ lùi rõ ràng. Sổ phân phối rơm đây, có chữ ký của từng hộ xã viên!”
Chi trố mắt nhìn con dấu đỏ chót của Hợp tác xã Nông nghiệp An Hòa in hằn trên nền giấy xơ thô ráp. Mặt hắn biến đổi từ tái mét sang đỏ bừng vì nghẹn họng.
Bà Phó Tươi giật thót, không tin vào mắt mình, cố vớt vát:
“Kể... kể cả là rơm mục thanh lý, nhưng các người mang về ủ nấm bán ra chợ đen kiếm lời, thế chẳng phải là kinh tế tư bản tư doanh thì là cái gì?”
An cất tiếng, giọng cô bình tĩnh, khúc chiết và vang rõ từng lời:
“Bà Phó Tươi, nấm rơm này nhà tôi cấy meo trên rơm mục để ăn độn vào bữa cơm chống đói giáp hạt, chứ chúng tôi đã đem bán ra khỏi cổng làng một tai nấm nào chưa? Hay là bà tận mắt thấy tôi mang ra chợ cóc ven đê bán chui? Nhà nước khuyến khích nhân dân tăng gia trên mảnh đất năm phần trăm, tận dụng phế phẩm nông nghiệp để tự túc thực phẩm, đỡ gánh nặng cho kho lương thực quốc gia. Nếu tận dụng rơm mục cứu đói cho gia đình mà bị coi là tư bản, vậy xin hỏi bà, các hộ xã viên nuôi con lợn ỉ, trồng luống rau muống sau nhà cũng là tư bản cả sao?”
An tiến lại gần hố ủ nấm, chỉ tay vào luống rơm phủ lớp mùn mịn màng:
“Đồng chí Chi cứ vào đây mà ngửi. Rượu lậu thì phải có men gạo, men sắn bốc mùi hèm chua nồng nặc. Ở đây chỉ có mùi rơm rạ mục và mùn đất. Nếu các đồng chí tìm thấy một giọt nước hèm rượu hay một cái nồi cất rượu nào trong cái nhà này, tôi xin chịu kỷ luật trước toàn thể xã viên!”
Chi ngượng ngùng bước lại gần ụ rơm, khịt khịt mũi mấy cái. Quả thực, chẳng có mùi men rượu nào sực lên như lời bà Phó Tươi ton hót, chỉ có mùi đất ẩm ngai ngái xen lẫn mùi thơm dịu nhẹ, thanh khiết của nấm rơm vừa đội mũ chui lên. Hắn lúng túng gãi gãi gáy, biết mình đã bị bà Phó Tươi biến thành mũi dao nhọn chọc bậy vào đá tảng. Trần Bình là thương binh loại hai, lại vừa lập đại công cứu kho giống bãi Soi được Huyện ủy khen ngợi; nếu làm to chuyện mà không có bằng cớ xác thực, người mất chức trước tiên chính là hắn.
Chi quay sang trừng mắt nhìn bà Phó Tươi một cái sắc lẹm, rồi hắng giọng chữa ngượng, mặt mày xơ cứng:
“Khụ... Báo cáo đồng chí Bình và gia đình, chúng tôi... chúng tôi nhận tin báo thì phải có trách nhiệm đi kiểm tra thực tế để bảo vệ an ninh trật tự và đường lối kinh tế của xã. Thấy đồng chí chấp hành nghiêm chỉnh thủ tục thanh lý của Ban quản trị như thế này là rất tốt. Nhưng tôi nhắc nhở, việc tăng gia nấm rơm phải tuyệt đối phục vụ đời sống gia đình, không được biến tướng thành nơi tụ tập buôn bán tự do, rõ chưa?”
“Rõ! Chúng tôi luôn chấp hành nghiêm chỉnh chủ trương của Đảng và Nhà nước!” Bình đứng nghiêm, trả lời dứt khoát như một người lính.
Chi vẫy tay ra hiệu cho hai anh dân quân:
“Thôi, rút quân!”
Bà Phó Tươi tức tối đến méo xệch cả mặt, dậm chân thình thịch trên nền ngõ đất, lủi thủi đi sau lưng tổ kiểm soát mà không dám ngoái đầu nhìn lại lấy một lần.
Cánh cổng tre khép lại. Không gian trong sân dần tĩnh lặng trở lại, chỉ còn tiếng gió lùa xào xạc qua tán chuối tiêu.
Bà cụ Mẫn như trút được gánh nặng nghìn cân, run rẩy ngồi thụp xuống bậc thềm gạch, hai giọt nước mắt già nua ứa ra nơi khóe mắt chằng chịt nếp nhăn:
“Phúc đức tổ tiên... Suýt nữa thì mang họa vào thân con ơi. Cái ngữ bà Tươi độc mồm độc miệng, thấy người ta hơn một tí là tìm cách dìm cho chết...”
An bước lại gần, ngồi xổm xuống bên cạnh, ân cần nắm lấy bàn tay lạnh ngắt của mẹ chồng:
“U đừng sợ. Mình làm ăn chân chính, cây ngay không sợ chết đứng u ạ. Con với anh Bình đã tính toán trước sau cả rồi, giấy tờ phân phối rơm anh Bình giữ cẩn thận lắm, không ai làm càn được đâu.”
Bình cúi người nhặt chiếc gậy tre của mẹ lên, lau bụi rồi dựng ngay ngắn vào góc cột. Anh nhìn An, trong đáy mắt đượm vẻ khâm phục và biết ơn vô ngần. Sự điềm tĩnh, sắc sảo và tự tin của cô gái thị thành khi đối mặt với hiểm nguy luôn khiến anh cảm thấy vững lòng một cách kỳ lạ.
“An này,” Bình khẽ gọi, giọng trầm ấm. “Vừa rồi may mà em dặn anh giữ kỹ tờ biên bản thanh lý ấy. Chứ không thì hôm nay phiền phức to với chúng nó.”
An mỉm cười, đôi mắt sáng lấp lánh:
“Em biết tính bà Tươi chưa chịu để yên đâu anh. Nhưng qua chuyện này, họ sẽ không dám bén mảng tới hạch sách mấy ụ rơm mục của nhà mình nữa. Nào, u vào bếp nhóm lửa đi ạ, trưa nay con nấu canh nấm rơm với hành hoa, ăn cùng cơm độn sắn nóng cho ấm ruột!”
*
Bữa trưa hôm ấy tuy vẫn là nồi cơm độn tới hai phần sắn lát phơi khô xơ xác, nhưng không khí gia đình lại ấm cúng lạ thường. Bát canh nấm rơm nấu suông chỉ nêm chút muối hột và vài cọng hành hoa hái vội ngoài bờ rào, vậy mà ngọt lịm một cách thanh tao, đậm đà vị ngọt tự nhiên của đạm thực vật. Từng búp nấm rơm giòn sần sật, cắn vào ngập chân răng béo ngậy, làm bừng sáng cả mâm cơm đạm bạc ngày đông.
Sau bữa ăn, An cùng Bình ra vườn sau.
Dưới rặng chuối tiêu, hố nuôi trùn quế ẩm ướt đã bắt đầu phát huy tác dụng. Lớp rơm mục bên trên đã được những đàn trùn khoang sinh sôi, cày xới nát tươm thành lớp phân trùn đen mịn. Nhưng nhìn sang gần hai sào đất vườn còn lại, An vẫn không giấu nổi vẻ trăn trở. Đất sét pha đế cày bị nén dẽ sau bao năm tích tụ tro bếp kiềm hóa vẫn còn trơ khấc, khô cằn. Những luống bắp cải, su hào vụ đông trồng thử nghiệm lá cứ còi cọc, vàng vọt vì thiếu đạm trầm trọng. Đợt rét đậm kéo dài càng làm rễ cây bị nghẹt, không hút nổi dinh dưỡng.
“Anh Bình này,” An chỉ tay xuống luống bắp cải lá teo tóp. “Đất này nghèo dinh dưỡng quá, lại bị chai cứng. Trùn quế cải tạo đất rất tốt, nhưng tốc độ nhân đàn chưa đủ nhanh để cung cấp phân bón cho cả hai sào đất trong vụ đông này. Phân chuồng thì cả nhà chỉ có góc chuồng lợn của hợp tác xã khoán nuôi một con, không thấm vào đâu. Nếu không bổ sung nguồn đạm hữu cơ dồi dào ngay bây giờ, đợt sương muối tới rau sẽ chết rũ hết.”
Bình nhíu mày, đưa tay quẹt ngang vòm trán ngăm đen:
“Phân hóa học thì chỉ có tiêu chuẩn phân đạm urê Hà Bắc của huyện cấp cho lúa tập thể, mỗi sào được có vài lạng, lấy đâu ra cho đất năm phần trăm. Mà có tiền cũng chẳng mua nổi ở cửa hàng mậu dịch. Giờ đào đâu ra chất đạm cho đất hả em?”
An mỉm cười, đôi mắt lấp lánh vẻ tự tin của một kỹ sư nông nghiệp thế kỷ 21 nắm giữ quy luật của tự nhiên:
“Có chứ anh. Ngay trước mắt chúng ta, bạt ngàn và miễn phí.”
“Ở đâu?” Bình ngơ ngác nhìn quanh.
“Ngoài sông Đáy và các đầm nước trũng quanh xã!” An dứt khoát đáp. “Đó là bèo hoa dâu!”
Bình tròn mắt nhìn vợ:
“Bèo dâu á? Xưa nay bà con mình vẫn vớt bèo dâu về băm nhỏ trộn cám cho lợn ăn, hoặc thả nổi trên ruộng lúa vụ chiêm để nó tự chết làm phân xanh. Nhưng trời rét buốt thế này, bèo nổi trên mặt nước cũng teo tóp, vả lại cứ thế vùi bèo tươi xuống đất thì rễ rau bị xót, thối rễ chết ngay chứ làm sao tốt được?”
An khẽ lắc đầu, kiên nhẫn giải thích cho chồng bằng thứ ngôn ngữ mộc mạc nhất:
“Anh nói đúng một nửa. Bèo tươi vùi thẳng xuống đất sẽ sinh ra khí độc và sinh nhiệt làm xót rễ cây. Nhưng nếu mình biết cách ‘nấu chín’ nó bằng men vi sinh tự nhiên thì lại khác hoàn toàn. Trong cánh lá bèo hoa dâu có những cái nốt nhỏ li ti, đó là nơi trú ngụ của một loại vi khuẩn trời ban, có khả năng hút đạm từ không khí biến thành chất béo ngậy nuôi cây. Đạm trong bèo hoa dâu tốt chẳng kém gì phân đạm hóa học đóng bao đâu anh. Nhưng muốn biến nó thành phân bón lót thượng hạng ngay giữa mùa đông, mình phải ủ men kỵ khí nóng!”
Thấy Bình chăm chú lắng nghe từng lời, An giải thích cặn kẽ hơn:
“Mình sẽ phối trộn bèo dâu với tro trấu và nước rỉ mật mía. Tro trấu có kali và lân, lại giữ cho đống ủ xốp thoáng. Nước mật mía sẽ làm mồi đánh thức các con men vi sinh có sẵn trong tự nhiên dậy ăn, sinh sôi và tỏa nhiệt cực lớn. Đống ủ sẽ nóng ran lên như lò than, thiêu ráo hết mầm mống sâu bệnh, biến bèo và rơm rạ thành một thứ mùn đen nhánh, giàu chất bổ cho đất chỉ trong vòng hai mươi ngày!”
Nghe An nói một cách rành rọt, khoa học mà lại tràn đầy niềm tin, lồng ngực Bình bỗng rạo rực một ngọn lửa phấn chấn. Anh vỗ mạnh vào bắp đùi:
“Được! Em bảo làm thế nào, anh làm thế ấy! Chiều nay anh mượn chiếc thuyền nan của Đội ba ra bãi bồi ven sông Đáy vớt bèo!”
*
Chiều đông bến đò Cốc, gió thổi hun hút trên mặt sông Đáy mờ mịt sương khói. Nước sông mùa này cạn, trong vắt và lạnh như cắt da cắt thịt. Những dải bèo hoa dâu ken đặc thành từng mảng lớn màu xanh phớt ánh tím tía dạt vào các vụng nước lặng ven bờ đê.
Bình cởi phăng chiếc áo bông cũ, chỉ mặc chiếc áo lót bộ đội cộc tay để lộ đôi cánh tay cuồn cuộn cơ bắp và bờ vai vạm vỡ. Anh lội bì bõm dưới bùn lầy, dùng chiếc cào tre sáu răng gom từng mảng bèo lớn lại gần mạn thuyền, rồi xúc từng sọt bèo nặng trĩu đặt lên khoang. Bùn lạnh buốt thấu xương, nhưng từng giọt mồ hôi vẫn rịn ra trên trán người cựu chiến binh.

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…