Xuyên không thập niên 70
Chương 20: Mầm họa giữa mùa xanh
Gió bấc rít qua những ngọn tre ngà đầu làng An Hòa từng cơn khô khốc, mang theo cái lạnh thấu xương tủy của đợt rét đậm đỉnh điểm cuối tháng mười hai năm 1977. Cả vùng đồng bằng trũng ven sông Đáy chìm trong một màn sương mờ xám xịt và ảm đạm. Sáng sớm nào cũng vậy, khi tiếng gà gáy le te vừa dứt, khắp bờ cỏ may, lối ngõ đất nện và những gốc rạ trơ trụi ngoài đồng đều phủ một lớp sương muối trắng lờ nhờ như rắc vôi bột. Cái rét cắt da rát buốt đến độ người đi làm đồng chỉ cần bước chân trần xuống bùn là gót chân lập tức nứt toác, buốt nhức tận óc.
Thế nhưng, giữa dải đất bãi Soi mênh mông của Đội sản xuất số 3, một bức tranh hoàn toàn trái ngược đang phô diễn sức sống mãnh liệt đến kỳ lạ.
Mười lăm mẫu ngô vụ đông nhờ được hun khói chống sương muối liên tục từ những đêm đầu đông, lại được tiếp sức kịp thời bằng nguồn mùn bèo hoa dâu kỵ khí giàu đạm hữu cơ, nay đã vươn mình cao vút quá đầu người lớn. Thân ngô mập mạp, chắc nịch như cổ tay thanh niên lực điền, đốt nào đốt nấy ngậm no dưỡng chất, chuyển sang màu xanh thẫm ánh tía khỏe khoắn. Trên ngọn, những dải cờ ngô đỏ tía bung nở đều tăm tắp, rung rinh trong gió bấc như hàng ngàn ngọn đuốc nhỏ thắp sáng cả dải bãi bồi. Ở nách lá, từng bắp ngô to tròn, bọc kín trong lớp bẹ xanh mướt đang độ ngậm sữa đẫy đà, râu ngô dài mượt rủ xuống màu cánh gián ẩm ướt, thoang thoảng tỏa ra mùi hương thanh tân ngọt dịu của tinh bột non.
An đứng tựa bên bờ mương dẫn nước, kéo lại chiếc khăn len sợi màu xanh công nhân quấn quanh cổ. Hơi thở cô phả ra làn khói trắng mỏng manh giữa thinh không. Đưa tay khẽ vén một túm râu ngô để kiểm tra độ căng của hạt, khóe môi cô bất giác nở một nụ cười an lòng. Lớp đất thịt pha cát dưới chân xốp mềm, không hề có dấu hiệu bị đóng váng hay ngạt rễ. Đám vi sinh vật bản địa trong men ủ bèo dâu đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ phân giải chất hữu cơ, giải phóng nguồn lân và kali bị keo đất giữ chặt, giúp bộ rễ ngô ăn sâu cắm chặt xuống tầng phù sa cổ, mặc cho giá rét càn quét trên mặt đất.
Cách bãi Soi không xa, trên mảnh đất vườn năm phần trăm sau căn nhà ba gian của gia đình An và Bình, sức sống lại càng thêm phần rực rỡ.
Tầng đất sét đế cày chai cứng, chua phèn sau trận lụt lịch sử năm 1971 — nơi mà cách đây hơn một tháng lưỡi cuốc của An từng nảy lửa dội ngược đến sưng tê cổ tay — nay đã hoàn toàn lột xác. Nhờ hàng ngàn con trùn quế cần mẫn đào xới ngày đêm kết hợp với lớp phân bèo dâu hoai mục bón lót sâu, đất vườn đã chuyển sang màu nâu đen tơi xốp, bóp nhẹ trên tay vỡ vụn như bột bánh khảo, ngai ngái mùi đất ải hoai mục nồng đượm.
Trên nền đất ấy, từng luống bắp cải cuộn chặt nung núc, bắp nào bắp nấy to như chiếc mũ sắt của bộ đội, vỗ nhẹ vào nghe bồm bộp chắc nịch. Cạnh đó, những củ su hào tròn lẳn, bóng bẩy đội lớp phấn trắng mịn màng đua nhau nhô lên khỏi mặt luống; giàn đậu cô ve đan bằng cọc nứa trĩu trịt từng chùm quả xanh ngắt dài hơn gang tay; luống cải cúc, cải bẹ xanh tươi mơn mởn, lá dày dặn hứng trọn những giọt sương mai.
Giữa những ngày đông giáp hạt thiếu đói quay quắt, khi mà mức chia lương thực theo đầu công điểm của xã viên chỉ vỏn vẹn dưới tám cân rưỡi mỗi tháng và phần lớn phải độn hai phần ba sắn mốc khô khốc, mảnh vườn nhỏ của vợ chồng An chẳng khác nào một kho báu giữa đời thực.
Không chỉ bảo đảm cho gia đình có những bữa cơm ấm áp, đủ đầy chất tươi, An còn biến mảnh vườn ấy thành nguồn cứu trợ thầm lặng cho xóm giềng. Mỗi buổi chiều tà, sau giờ kẻng hợp tác tan tầm, gian bếp nhỏ của u Mẫn lại tấp nập tiếng bước chân rụt rè của những người hàng xóm neo đơn, khốn khó nhất Đội 3.
Khi thì An dúi vào rổ rách của thím Ba góa bụa một ôm bắp cải cuộn chặt cùng nắm đỗ cô ve non:
“Thím cầm về luộc cho mấy đứa nhỏ ăn cho mát ruột. Trẻ con đang tuổi lớn, ăn toàn sắn lát khô suốt nửa tháng nay rộc cả người đi rồi đấy thím ạ.”
Khi thì cô cẩn thận bọc mấy củ su hào mập mạp và rổ cải cúc vào chiếc bao tải gai đưa cho bác Cả Sắn — người thương binh già sống thui thủi một mình nơi xóm bãi:
“Bác Cả mang về nấu bát canh nóng mà bồi dưỡng. Trời này buốt lắm, vết thương ở bả vai bác lại trở trời đau nhức, có bát canh rau tươi ấm bụng cũng đỡ được phần nào.”
Cầm mớ rau tươi non mơn mởn trên đôi tay gầy guộc run rẩy vì lạnh, thím Ba rơm rớm nước mắt, giọng nghẹn ngào:
“Cô An ơi... nhà tôi chịu ơn vợ chồng cô chú nhiều quá. Thời buổi đói kém, hạt gạo cắn đôi, mớ rau ngoài chợ huyện người ta còn giấu giếm đổi chác từng lạng dầu hỏa, thế mà cô cứ hào phóng đem cho không thế này... U Mẫn với chú Bình lấy được cô về làm dâu, đúng là Bồ Tát che chở cho cái xóm Đoài này!”
An chỉ mỉm cười dịu dàng, hai tay đỡ lấy bàn tay thô ráp của người phụ nữ khắc khổ:
“Thím đừng nói thế, tối lửa tắt đèn có nhau mà thím. Đất đai trời cho, chịu khó chăm bón một chút là nó đền đáp thôi. Nhà thím gom được bao nhiêu tro trấu với rơm rạ mục rồi? Chiều mai rảnh, thím mang quang gánh sang đây, cháu trích cho một ít men ủ dở ở hố sau nhà rồi sang chỉ cho thím cách ủ một đống phân bèo dâu. Rau màu nhà thím vụ sau khắc sẽ xanh tốt như vườn nhà cháu ngay!”
Cứ thế, tiếng lành đồn xa. Hiệu quả trông thấy bằng mắt, sờ thấy bằng tay của phương pháp ủ men vi sinh từ bèo bồng, bèo hoa dâu và tro trấu mục đã thổi bùng lên một làn sóng học hỏi sôi nổi chưa từng có trong toàn Đội 3. Người nông dân vốn dĩ thực tế, họ không tin vào những bài thuyết giáo lý thuyết suông trên hội trường rơm rạ, nhưng họ tuyệt đối tin vào những bắp ngô mập mạp đang đung đưa ngoài bãi Soi và những luống bắp cải nung núc trong vườn nhà Bình.
Từ sáng sớm tinh mơ đến khi chạng vạng tối, khoảng sân đất nện trước nhà Bình lúc nào cũng rộn rã tiếng nói cười. Bà con xã viên Đội 3 lũ lượt kéo sang. Người xách theo cái thúng nhỏ đựng tro bếp mịn, người vác theo bó rơm rạ mục ẩm ướt, người cẩn thận bưng âu sành đựng nước vo gạo chua để học An cách làm “nước men cái”.
Bình vừa thoăn thoắt dùng chiếc xẻng bộ binh đảo đống mùn mẫu giữa sân, vừa cởi mở giải thích cặn kẽ kinh nghiệm thực tế cho các bác nông dân lớn tuổi. Dáng người anh cao lớn, vạm vỡ trong chiếc áo bông trấn thủ màu cỏ úa, nụ cười đầm ấm xua tan đi cái lạnh căm căm. Còn An, với cuốn sổ tay bìa bọc báo cũ kẹp chiếc bút chì mộc, kiên nhẫn giảng giải từng nguyên lý bằng thứ ngôn ngữ đồng ruộng mộc mạc, dễ hiểu nhất.
“Các bác, các thím nhớ cho cháu nhé,” An vừa dùng que tre chỉ vào vết cắt ngang của một ụ bèo ủ mẫu giữa sân, vừa cất giọng rành rẽ để mọi người cùng nghe, “con vi sinh vật làm mùn nó cũng như con người mình vậy, nó cần ăn, cần thở và cần ấm. Lớp bèo dâu sông Đáy vớt lên phải phơi cho se mặt nước, trộn đều với tro bếp và trấu hun mục theo tỷ lệ ba phần bèo, một phần tro trấu. Sau đó tưới nước rỉ mật hoặc nước hồ sắn lên để nuôi men. Trát lớp bùn ao dày chừng hai đốt ngón tay bên ngoài là để giữ nhiệt, không cho hơi nóng thoát ra ngoài.”
Chị Đượm đứng chen lấn ngay hàng đầu, hai tay xoa xoa vào nhau cho đỡ cóng, miệng cười toe toét hỏi dồn:
“Cô An ơi, thế làm sao biết đống ủ bên trong nó đã ‘chín’ ngấu hay chưa? Chứ cứ trát kín mít thế kia, chẳng lẽ ngày nào cũng chọc thủng ra mà ngó à?”
Cả sân cười ồ lên thích thú. An cũng bật cười, cô rút một que tre vót nhọn cắm sâu vào tâm đống ủ rồi kéo ra, đưa cho chị Đượm sờ vào đầu que:
“Chị Đượm thử sờ xem nào! Cứ cắm cái que tre này vào giữa đống ủ chừng mười lăm phút. Rút ra mà thấy đầu que nóng ran, ấm sực tay như chạm vào nồi cơm vừa cạn nước, lại ngửi thấy mùi chua ngọt như bỗng rượu nếp cái hoa vàng là men đang hoạt động cực mạnh đấy. Bên trong phải nóng già như thế thì mọi mầm bệnh, hạt cỏ dại mới bị hun chết sạch. Chừng hai mươi ngày sau, khi đống ủ xẹp xuống, sờ que tre thấy nguội dần và chuyển sang mùi đất ải nồng đượm là phân đã hoai hoàn toàn, bón cho ngô, cho lúa thì tốt gấp ba lần đạm mậu dịch!”
Bác Cả Sắn gật gù liên hồi, đưa tay nâng một nắm mùn bèo đã hoai mục lên ngửi, mắt sáng rực lên thán phục:
“Kỳ tài thật! Cả đời tôi đi cày đi cấy, chỉ biết đem bèo tươi vùi bừa xuống ruộng làm nghẹt rễ thối bùn, có bao giờ ngờ cái thứ bèo bồng trôi dạt đầy sông Đáy kết hợp với tro trấu bỏ đi lại biến thành thứ phân quý giá như vàng đen thế này. Chú Bình lấy được cô An đúng là cái phúc lớn của toàn Đội ba chúng ta!”
Không khí hăng say lao động và tinh thần tương thân tương ái bao trùm khắp xóm Đoài. Đội 3 như một công trường thu nhỏ: thanh niên chèo thuyền nan ra sông vớt bèo, phụ nữ gánh tro trấu, người già và trẻ con phụ giúp trát bùn ủ đống. Niềm hy vọng về một vụ đông xuân no đủ, không còn cảnh đứt bữa giáp hạt đã nhen nhóm rực rỡ trong từng ánh mắt chai sần sương gió.
Thế nhưng, giữa bầu không khí náo nức ấy, An không ít lần bắt gặp những cái nhìn dò xét, hằn học từ phía bên kia con mương ranh giới.
Tại cánh đồng của Đội sản xuất số 1 và Đội 2, nơi thói quen canh tác đại khái, cẩu thả vẫn bám rễ sâu, cảnh tượng hoàn toàn đối lập. Hơn hai mươi mẫu ngô vụ đông của Đội 1 còi cọc, vàng vọt xơ xác dưới sương muối. Thân ngô khẳng khiu chỉ cao ngang thắt lưng, đốt ngắn củn, lá ngô tím ngắt co quắp lại như những dải giẻ rách cắm trên nền đất nứt nẻ. Bắp ngô lép kẹp, chỉ lơ phơ vài túm râu khô khốc, cầm chắc một vụ đông thất thu trắng tay.
Mỗi bận ra mương lấy nước, An thường thấy bóng dáng Đặng Tiết — Đội trưởng Đội 1 — đứng sừng sững trên bờ vùng, mặt mày xám ngoét, mắt nhìn chằm chằm sang bãi Soi xanh ngắt với vẻ hậm hực khôn nguôi. Tiết vốn là em họ xa của bà Phó Tươi, nổi tiếng hẹp hòi, giáo điều và luôn tự phụ Đội 1 là lá cờ đầu của hợp tác xã. Nhìn cảnh tượng Đội 3 vượt trội, gã không giấu nổi sự cay cú.
Chị Đượm trong một lần gánh trấu sang nhà An cũng đã thì thào cảnh báo:
“Cô An này, cô phải cẩn thận đấy nhé. Mấy hôm nay tôi nghe phong phanh bên xóm Đông, mụ Phó Tươi với lão Tiết đang cay cú lắm. Lão Tiết đi rêu rao khắp nơi là nhà cô chú ủ bèo dâu chỉ là bình phong, chứ đời thuở nào bèo thối với tro trấu lại biến ngô thành rừng giữa mùa rét hại thế được. Mụ Phó Tươi còn bóng gió bảo có kẻ lén lút mờ ám... Mụ ấy ghét cô chú từ vụ nấm rơm dạo nọ, giờ thấy cô được cả làng kính nể, mụ ta ăn không ngon ngủ không yên đâu!”
An khẽ gật đầu, ghi nhận lời nhắc nhở chân tình của chị Đượm, nhưng thâm tâm cô vẫn nghĩ những thành quả này đều sờ sờ trước mắt, đất đai không biết nói dối, bà con xã viên đều đồng lòng thì sự ghen ghét nhỏ nhen cũng chẳng làm lay chuyển được sự thật.
Màn đêm buốt giá buông xuống xóm Đoài nhanh như một cái chớp mắt. Sương muối kết hợp với gió mùa đông bắc tạo thành một lớp sương mù dày đặc quánh lại, bao trùm khắp ngõ xóm một không khí tê buốt, u uất và tịch mịch đến se lòng.
Trong căn nhà ba gian của Bình và An, ngọn đèn dầu hỏa được vặn nhỏ bấc, tỏa ra ánh sáng vàng vọt leo lét hắt lên vách đất trát rơm. Bà cụ Mẫn đã mệt mỏi đi nằm sớm từ chập tối sau một ngày phụ con dâu phơi trấu ngoài sân. Bên chiếc bàn gỗ mộc kê sát cửa sổ liếp nứa, An đang ngồi cặm cụi ghi chép lại ngày ủ, độ nóng ẩm của từng ụ bèo dâu vào cuốn sổ tay công điểm cũ.
Bình ngồi trên chiếc ghế đẩu cạnh hiên nhà, cặm cụi dùng đá mài lại lưỡi chiếc xẻng bộ binh. Tiếng đá mài cọ vào thép phát ra những âm thanh “xoẹt... xoẹt...” đều đặn, khô khốc vang vọng giữa đêm vắng. Ánh mắt anh trầm ngâm, đôi lông mày rậm hơi nhíu lại, trên vầng trán cương nghị hằn sâu những nét âu lo hiếm thấy.
Gió lạnh lùa qua khe cửa liếp khiến ngọn đèn bấc chao nghiêng. An dừng bút, ngước mắt nhìn bóng lưng vững chãi của chồng. Dù Bình không nói ra từ lúc chập tối, nhưng qua nét mặt đăm chiêu của anh khi đi họp giao ban trên ban quản trị về, cô linh cảm thấy một cơn dông bão vô hình đang kéo tới gần.

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…