Xuyên không thập niên 70
Chương 21: Bẫy lồng trong bẫy
Gió bấc giữa đêm đông rít lên từng hồi qua khe liếp, mang theo hơi nước buốt nhói từ mặt sông Đáy phả vào gian sân đất nện. Không khí trong khoảnh sân nhà ba gian chùng xuống đặc quánh, tưởng chừng như chỉ cần một tàn lửa nhỏ cũng đủ kích nổ cơn thịnh nộ đang sôi trào.
Trần Bình đứng sững giữa sân, lồng ngực vạm vỡ phập phồng sau làn áo trấn thủ mỏng. Gân xanh trên trán anh hằn lên cuồn cuộn, ánh mắt quắc lên tia nhìn sắc lẹm của người lính trinh sát từng luồn sâu trong rừng cao su miền Đông. Bàn tay chai sần siết chặt cán xẻng bộ binh đến mức khớp xương kêu răng rắc. Anh nghiến răng, thanh âm trầm đục như tiếng sấm rền trong lồng ngực:
“Khốn nạn thật! Đấu không lại bằng năng suất, bằng mồ hôi nước mắt thì quay sang giở trò bẩn thỉu hại người! Để tôi sang thẳng xóm Đông lôi cổ thằng cháu mụ Tươi ra trước cổng đình, bắt nó vác xác về đây mà hốt cho bằng hết cái thứ nhơ nhớp ấy!”
Nói đoạn, Bình quay ngoắt người, sải bước dài định xông thẳng ra cổng tre.
“Anh Bình! Đứng lại!”
Một bàn tay thon nhỏ nhưng ấm áp và dứt khoát nắm chặt lấy cổ tay anh. Hoài An bước nhanh lên chắn trước mặt chồng. Đôi mắt hạt huyền của cô dưới bóng tối lấp loáng ánh sáng bình tĩnh đến lạ thường, hoàn toàn đối lập với cơn giận đang bốc hỏa của Bình và sự hoảng loạn tột cùng của chị Đượm.
“Em bảo anh dừng lại.” Giọng An trầm xuống, rành rọt từng chữ, “Bây giờ đêm hôm khuya khoắt, anh vác xẻng chạy sang xóm Đông bắt người, anh lấy cái gì làm bằng chứng? Mụ Phó Tươi là Phó chủ tịch Hội Phụ nữ xã, thằng cháu mụ lại là chân bảo vệ kho đội Một. Anh vừa bước vào ngõ, chúng nó đã có thể hô hoán lên là Đội trưởng đội Ba cậy thế ức hiếp dân lành, thậm chí đổ vấy cho anh tội hành hung cán bộ. Lúc ấy, tình ngay lý gian, người thiệt đầu tiên chính là anh!”
Bình khựng lại, hơi thở vẫn còn gấp gáp nhưng ánh mắt đã dịu bớt phần nào trước cái nhìn thấu suốt của vợ. Anh nhìn xuống bàn tay nhỏ bé đang ghì chặt lấy tay mình, day day thái dương:
“Chẳng lẽ mình cứ giương mắt nhìn chúng nó gài bẫy? Sáng mai đoàn thanh tra huyện của thằng Nghiêm về tới nơi, chúng nó chỉ việc xắn quần lội xuống hố bèo moi bao đạm lên thì tôi với em ăn nói thế nào trước toàn thể xã viên? Tội phá hoại kinh tế, tư lợi vật tư nhà nước thời chiến... cái án ấy đủ để tước Đảng tịch, đẩy cả hai vợ chồng mình vào tù!”
“Chính vì cái bẫy này quá độc hiểm, chúng ta càng không được để sự nóng giận dắt mũi.” An hít một hơi thật sâu, luồng không khí lạnh buốt tràn vào phổi giúp đầu óc cô thêm tỉnh táo, “Mục đích của mụ Tươi và Đặng Tiết không chỉ là hại em, mà là muốn đánh gục uy tín của anh, xóa sổ mô hình đội Ba và dập tắt tiếng nói của những người muốn đổi mới cách làm ăn. Bọn chúng đã cất công đào hố chôn bẫy, thì chúng ta sẽ biến chính cái hố ấy thành mồ chôn sự nghiệp dối trá của chúng nó!”
Chị Đượm lúc này mới hoàn hồn, lập cập bò dậy bám lấy cánh tay An, nước mắt giàn giụa:
“Cô An nói phải đấy chú Bình ơi! Ban nãy tôi nép bờ rào nghe mụ Tươi dặn thằng cháu kỹ lắm. Mụ bảo sáng mai mụ sẽ đích thân dẫn đoàn thanh tra huyện xuống thẳng hố ủ bèo, không cho nhà mình kịp trở tay. Bây giờ chú mà manh động, mụ chối bay chối biến rồi bảo tôi vu khống thì tôi biết lấy mồm miệng nào cãi lại cái mồm loa mép giải của mụ?”
An gật đầu, siết nhẹ tay chị Đượm để truyền cho chị chút hơi ấm:
“Chị Đượm, chị là người cứu cả gia đình em đêm nay. Nhưng việc này chưa dừng lại ở đây được, em cần chị giúp thêm một việc hệ trọng nữa, chỉ có chị mới làm được.”
“Cô cứ bảo! Dù phải lội bùn qua sông Đáy giữa đêm tôi cũng làm! Tôi không thể để lũ sâu mọt ấy hại người ngay thẳng!” Chị Đượm quệt vội giọt nước mắt trên gò má nứt nẻ, quả quyết đáp.
An ghé sát tai chị Đượm, thì thầm dặn dò:
“Chị đừng đi đường đê chính, hãy đi men theo lối mương cạn vòng qua xóm Chùa, sang thẳng nhà bác Lê Văn Vượng – Bí thư Chi bộ xã, sau đó rẽ sang nhà anh Chiến – Trưởng Công an xã. Chị nói với hai bác rằng: Đội trưởng Bình có báo cáo khẩn cấp liên quan đến an ninh vật tư và kỹ thuật ủ ấm phòng dịch cho trâu bò vụ đông của xã, khẩn thiết mời Bí thư và Trưởng Công an đến nhà kiểm tra ngay trong đêm để kịp triển khai sáng sớm mai. Tuyệt đối không được đả động nửa lời về chuyện bao phân đạm hay mụ Phó Tươi, chị nhớ rõ chưa?”
Chị Đượm chớp mắt, thoáng chút ngỡ ngàng trước sự kín kẽ của An:
“Tôi nhớ rồi! Đi đường mương cạn, chỉ nói chuyện công việc của đội, tuyệt đối không hở chuyện bẫy đạm!”
“Đúng vậy. Đi mau đi chị, cẩn thận sương muối trơn trượt.”
Bóng chị Đượm vừa khuất sau rặng tre đầu ngõ, An lập tức quay sang nhìn chồng:
“Anh Bình, vào nhà lấy cho em cây đèn bão, cái kéo cắt chỉ của u và một cái xô nhôm sạch. Chúng ta ra hố bèo xem hiện trường.”
Bình gật đầu không do dự. Trong khoảnh khắc ngàn cân treo sợi tóc này, sự điềm tĩnh và bản lĩnh khoa học của An như một điểm tựa vững chãi, kéo anh ra khỏi cơn bốc đồng của người lính quen trận mạc. Anh nhanh chóng bước vào gian giữa, vừa vặn thấy u Mẫn đang lục đục trở mình bên giường con, cất giọng run run hỏi với ra:
“Bình đấy hả con? Đêm hôm có chuyện gì mà ồn ào ngoài sân thế? U nghe tiếng con Đượm khóc...”
Bình đứng ngoài mành tre, nén giọng ấm áp trấn an mẹ:
“Không có gì đâu u, chị Đượm sang nhờ con kiểm tra cống dẫn nước ngoài đồng thôi. Trời rét lắm, u trùm kín chăn nằm nghỉ đi kẻo lại ho gió, con với nhà con ra vườn một lát rồi vào ngay.”
Nghe tiếng thở phào nhẹ nhõm của mẹ già bên trong, Bình mím môi, với chiếc đèn bão treo trên cột cái, vặn nhỏ bấc để ánh sáng chỉ lờ mờ đủ soi lối đi, rồi cầm thêm chiếc xô nhôm bước nhanh ra sau hồi nhà.
Khu vườn năm phần trăm sau nhà An chìm trong màn sương đông mịt mùng. Gió bấc thổi qua những tán chuối tiêu rách bươm nghe xào xạc như tiếng thì thầm ma quái. Mảnh đất trước kia vốn chai cứng như đá, nay nhờ bàn tay vợ chồng An cải tạo bằng trùn quế và mùn vi sinh, đã mọc lên những luống bắp cải, đậu cô ve xanh mướt, kiên cường chống chọi với sương muối. Thế nhưng, mục tiêu của họ đêm nay nằm ở góc khuất sát rặng tre ngà giáp con mương dẫn nước: hố ủ bèo hoa dâu vi sinh kỵ khí.
Càng bước lại gần hố ủ, bước chân của An càng chậm lại. Khứu giác nhạy bén của một kỹ sư công nghệ sinh học lập tức bắt được một mùi hương bất thường xộc thẳng vào cánh mũi.
Không phải mùi chua nồng dịu ngọt của cỏ cây lên men kỵ khí, cũng không phải mùi đất mùn ngai ngái quen thuộc. Đó là một mùi khai gắt, nồng nặc đến nghẹt thở, rát buốt nơi cuống họng – mùi amoniac tự do thoát ra với mật độ đậm đặc!
“Đúng là đạm U-rê rồi...” Bình đưa vạt áo lên che mũi, rọi luồng sáng vàng vọt của ngọn đèn bão xuống mặt hố.
Hố ủ bèo hoa dâu rộng chừng sáu mét vuông, sâu hơn một mét vốn được An trát kín bằng một lớp bùn ao dày trộn rơm băm để duy trì môi trường kỵ khí tuyệt đối. Nhưng lúc này, ở góc phía tây của hố, lớp bùn mặt đã bị cày xới nham nhở. Kẻ đào trộm dù đã cố gắng đắp bùn non lên ngụy trang, nhưng những mảng bùn mới còn ướt sũng, đen sẫm, tương phản rõ rệt với bề mặt bùn cũ đã se khô nứt nẻ chân chim bên cạnh.
An ngồi thụp xuống mép hố, không hề ngại ngần bùn bẩn, cô dùng một que tre nhỏ gạt nhẹ lớp bùn non trên bề mặt. Chỉ cần gạt sâu chừng một gang tay, một góc vải đay gai màu nâu xám đã lộ ra dưới ánh đèn le lói.
“Anh Bình, soi đèn lại gần đây.” An khẽ gọi.
Bình cúi người đưa ngọn đèn bão sát xuống đáy rãnh bùn. Dưới lớp sợi đay ướt nhớp nháp, dòng chữ in bằng mực xanh công nghiệp thời bao cấp hiện lên lờ mờ nhưng không thể chối cãi:
“PHÂN ĐẠM U-RÊ HÀ BẮC – TIÊU CHUẨN KỸ THUẬT NHÀ NƯỚC – KHỐI LƯỢNG 50KG – SỐ LÔ: Đ1-77/09”
“Số lô Đ1!” Bình thốt lên, mắt lóe lên tia sáng phẫn nộ, “Đ1 là ký hiệu kho của Đội sản xuất số Một! Đặng Tiết làm đội trưởng, mụ Tươi làm thủ kho kiêm giám sát phân phối vật tư của xã! Tuần trước trong cuộc họp Ban quản trị, chính thằng Tiết đã báo cáo trước Chủ nhiệm Khoát là kho Đội Một bị dột nước và chuột cắn rách mất hai bao đạm U-rê dự trữ, phải lập biên bản hao hụt tiêu hủy! Hóa ra chúng nó không hề tiêu hủy, mà lén giấu đi để hôm nay đem chôn vào vườn nhà tôi!”
“Chính là nó.” Khóe môi An khẽ nhếch lên một nụ cười lạnh lùng, “Chúng muốn tạo ra một vụ án hoàn hảo. Đạm hóa học vốn là vật tư chiến lược do Nhà nước độc quyền phân phối bằng chỉ tiêu nghiêm ngặt. Đội Ba chúng ta không có chỉ tiêu đạm mà ngô vẫn tốt, rau vẫn xanh. Chỉ cần sáng mai đoàn thanh tra huyện đào được bao đạm mang đúng số hiệu kho hợp tác xã nằm ngay trong hố phân nhà anh, thì bao nhiêu công sức ủ bèo hoa dâu, bao nhiêu lý lẽ khoa học của chúng ta đều sẽ bị quy kết thành trò bịp bợm để che đậy hành vi ăn cắp tài sản xã hội chủ nghĩa!”
Bình tức tối giơ chiếc xẻng lên:
“Để anh đào phắt nó lên, vứt mẹ xuống dòng sông Đáy cho trôi đi! Chúng nó muốn khám thì cho chúng nó bới đất lên mà tìm!”
“Không được đào!” An giữ chặt lưỡi xẻng của Bình, giọng dứt khoát phi thường, “Nếu anh vứt đi, ngày mai mụ Tươi dẫn đoàn thanh tra về không thấy bao đạm đâu, mụ sẽ lu loa lên rằng anh đã đánh hơi thấy mà tẩu tán tang vật. Vết bùn xới còn mới nguyên ở đây, anh làm sao chối được việc có kẻ vừa đào bới? Hơn nữa, nếu vứt đi, chúng ta chỉ tạm thời thoát nạn một lần, còn cái gai độc mụ Tươi và Đặng Tiết vẫn sẽ tiếp tục rình rập cắm vào lưng chúng ta. Lần này, em muốn nhổ tận gốc cái gai ấy!”
Bình sững lại nhìn vợ:
“Ý em là... giữ nguyên hiện trường?”
“Phải, giữ nguyên hiện trường giả của chúng nó!” Đôi mắt An sáng rực lên dưới ánh đèn bão, trí tuệ sắc sảo của một nhà khoa học thế kỷ 21 bung tỏa trọn vẹn trong từng câu nói, “Bọn chúng là những kẻ dốt nát về mặt hóa sinh học. Chúng tưởng rằng cứ vùi bao đạm xuống hố phân là xong chuyện, nhưng chúng không hề biết đống ủ kỵ khí này hoạt động như thế nào!”
An đưa bàn tay trần chạm nhẹ vào lớp bùn xung quanh bao tải, cảm nhận luồng nhiệt nóng rẫy truyền qua da thịt:
“Anh Bình, anh có nhớ em từng nói với anh không? Khi chúng ta ủ bèo hoa dâu với tro trấu và rỉ mật theo quy trình kỵ khí nóng, hoạt động phân giải của các chủng vi sinh vật kỵ khí sẽ sinh ra một lượng nhiệt lượng khổng lồ. Nhiệt độ bên trong lõi đống ủ hiện tại đang dao động từ 55 đến gần 60 độ C!”
Bình chăm chú lắng nghe, từng tế bào thần kinh đều căng lên theo lời giải thích của vợ.
“Phân U-rê nguyên chất là hợp chất hữu cơ chứa nitơ dạng amit, cực kỳ nhạy cảm với nhiệt độ và độ ẩm.” An tiếp tục phân tích, ngón tay cô chỉ vào những hạt trắng li ti đang rỉ ra từ kẽ bao đay bị rách, “Ở nhiệt độ 60 độ C kèm theo độ ẩm bão hòa của bùn ao, các tinh thể U-rê sẽ lập tức bị thủy phân mãnh liệt thành khí amoniac và amoni bicacbonat. Anh ngửi thấy mùi khai sực lên nồng nặc này không? Đó là khí amoniac đang thoát ra! Nếu bao đạm này được chúng ta lén lút chôn ở đây từ nửa tháng trước như lời vu khống của mụ Tươi, thì dưới nhiệt độ 60 độ C liên tục suốt mười lăm ngày, toàn bộ 50kg U-rê này đã tan chảy rữa thành nước và bay hơi sạch bách từ lâu, vỏ bao tải đay cũng sẽ bị các enzym vi sinh vật ăn mòn mục nát! Nhưng anh nhìn xem, vỏ bao còn dai chắc, các hạt đạm ở lõi bên trong vẫn còn nguyên dạng hình cầu khô ráo, mới chỉ bắt đầu chảy rữa ở lớp ngoài tiếp xúc với bùn. Điều đó chứng minh cái gì?”
Bình là người thông minh, anh lập tức hiểu ra điểm mấu chốt, đôi mắt sáng bừng lên:
“Chứng minh bao đạm này mới chỉ được vùi vào đây không quá một đến hai tiếng đồng hồ!”
“Chính xác!” An mỉm cười, một nụ cười đanh thép, “Khoa học không bao giờ biết nói dối. Nhiệt động học và phản ứng thủy phân của đống ủ chính là chiếc đồng hồ bấm giờ chính xác nhất của tự nhiên. Chúng nó muốn dùng bao đạm này làm bằng chứng buộc tội chúng ta, thì chính quy luật hóa học của nó sẽ trở thành bằng chứng thép vạch trần mưu mô ngụy tạo hiện trường giả!”
Vừa dứt lời, An dùng que tre nhẹ nhàng lật lớp lá chuối khô mục cạnh bờ mương rào. Đôi mắt tinh tường của cô lập tức phát hiện một chi tiết đắt giá:
“Anh Bình, nhìn này!”
Dưới ánh đèn, trên nền bùn nhão bên cạnh mép rào gai bị xé rách một mảng, in hằn một vết chân người lún sâu gần hai tấc, cho thấy người dẫm lên phải gánh một vật rất nặng. Nhưng điều quan trọng hơn cả: ngay cạnh vết chân lún ấy là một chiếc quai dép cao su đúc màu đen bị đứt lìa, nằm kẹt giữa búi gai mây. Chiếc quai dép này đã mòn vẹt gót, trên thân quai có buộc một sợi dây đồng nhỏ màu đỏ để gia cố – dấu vết sửa chữa thủ công vô cùng đặc trưng mà bất cứ người dân nào trong làng cũng có thể nhận ra.
Bình cúi xuống nhìn kỹ chiếc quai dép, bật ra một tiếng cười gằn:
“Thằng Thược! Đúng là thằng Thược, cháu họ mụ Tươi! Chiếc dép đúc vá dây đồng này tuần trước nó vừa khoe với đám thanh niên ngoài bãi bóng!”
“Đừng chạm vào nó!” An nhắc nhở, “Cứ để nguyên ở đó. Càng nhiều dấu vết vật chất tại chỗ, sợi dây thòng lọng quanh cổ chúng nó càng thắt chặt.”
Đúng lúc đó, từ phía ngõ trước vang lên tiếng bước chân dồn dập, gấp gáp nhưng cố gắng kìm nén âm thanh. Tiếng chó sủa ran lên ở đầu xóm rồi nhanh chóng tắt lịm khi nhận ra người quen.
“Họ đến rồi.” Bình thì thầm, nhanh chóng kéo tấm áo tơi che bớt miệng hố bèo rồi cùng An bước vội lên sân trước.
Cánh cổng liếp hé mở. Chị Đượm thở hổn hển dẫn đường cho hai người đàn ông mặc áo bông trấn thủ màu chàm sải bước vào sân.
Đi đầu là ông Lê Văn Vượng – Bí thư Chi bộ xã An Hòa, trạc ngoài năm mươi tuổi, dáng người quắc thước, mái tóc hoa râm cắt ngắn gọn gàng dưới chiếc mũ cối Liên Xô, khuôn mặt vuông vức toát lên vẻ nghiêm nghị, từng trải của một cán bộ tiền khởi nghĩa. Theo sát phía sau là đồng chí Lê Chiến – Trưởng Công an xã, một cựu chiến binh trẻ tuổi hơn, thắt lưng da đeo bao súng ngắn quân dụng bên hông, đôi mắt sắc sảo luôn cảnh giác quan sát xung quanh.
“Đồng chí Bình, cô An!” Bí thư Vượng bước nhanh lên thềm, giọng trầm nhưng đầy uy lực, “Nửa đêm hôm khuya khoắt thế này, chị Đượm chạy sang báo có việc hệ trọng liên quan đến an ninh sản xuất của xã. Rốt cuộc là có chuyện gì?”

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…