Xuyên không thập niên 70
Chương 2: Tiếng kẻng Đội sản xuất số 3
Tiếng kẻng bằng vỏ bom tạ treo trên cành đa cổ thụ vẫn không ngừng nện vào không gian từng hồi chát chúa, dằn dỗi như muốn xé toạc màn sương mù mờ đục đang bao phủ khắp ngõ xóm An Hòa. Gió bấc từ triền sông Đáy thổi thốc vào mang theo hơi nước buốt giá, quất từng luồng buốt nhức vào da thịt trần trụi.
An khẽ rụt cổ lại dưới lớp áo sơ mi bảo hộ mỏng manh, chiếc nón rách dán ni-lông chụp sụp xuống trán. Cô vác chiếc cuốc bàn lên vai, lưỡi thép chạm vào thanh gỗ xoan phát ra tiếng cọ xát khô khốc. Khép lại cánh cổng tre đan tạm bợ xiêu vẹo, cô hòa mình vào dòng người đang từ khắp các ngõ sâu lục tục kéo ra con đường trục chính dẫn ra cánh đồng trũng.
Con đường liên thôn vào những ngày giáp Tết lầy lội đến thảm hại. Đất thịt mùa mưa ngấm đẫm phù sa nay bị hàng trăm bước chân người, chân trâu và những vệt bánh xe quệt cày nát thành từng rãnh bùn nhão nhoét, sâu hoắm. Không khí sặc mùi phân trâu tươi, mùi rơm rạ ẩm mốc đang thối rữa dưới rãnh nước và mùi khói bếp un lá ổi đắng đót phảng phất từ những chái nhà tranh vách đất.
Những khuôn mặt hiện ra dưới vành nón lá đều chung một nét u uất, xám ngoét vì thiếu ăn và rét mướt. Đàn ông khoác áo tơi lá cọ xù xì, tay cầm xẻng, tay xách quang sọt; đàn bà quấn khăn vuông sùm sụp ngang má, chân trần bì bõm lội dưới bùn lạnh ngắt, hai hàm răng va vào nhau lập cập. Chẳng ai buồn cất tiếng cười đùa. Sự im lặng nặng nề bao trùm lấy đoàn người, chỉ có tiếng thở dài thườn thượt và tiếng bì bõm của bùn nhão dính chặt lấy từng bước chân nặng trĩu.
“Lại vét mương chiêm trũng... Rét cắt da cắt thịt thế này mà bắt lội xuống bùn sâu đến bẹn thì sống sao nổi hả trời?”
Một giọng đàn bà trạc tuổi trung niên làu bàu cất lên, mũi sụt sịt đầy ngao ngán. Đi bên cạnh, một bác nông dân luống tuổi chép miệng, giọng khàn đặc khói thuốc lào:
“Thì cũng ráng mà vác mặt ra chấm công. Đội ba tháng này bị trừ mất bao nhiêu điểm vì không xong cái bờ bao ngăn mặn rồi. Không đi, cuối tháng ban quản trị gạt tên ra khỏi sổ chia thóc thì cả nhà ôm nhau húp cháo loãng.”
“Ối dào, công với chả điểm! Làm hùng hục như trâu húc mả cả ngày cũng chỉ được tám điểm, bằng đứa đứng tựa cán cuốc ngắm trời nhìn mây. Kẻng điểm danh có mặt, hết giờ cắp cuốc về, dại gì mà đày đọa cái thân xác!”
Những mẩu đối thoại rời rạc, bất mãn ấy lọt thỏm vào tai An, phản ánh trần trụi thực tế của nếp làm ăn tập thể lúc bấy giờ. Cơ chế quản lý cào bằng, “đánh trống ghi tên, xuất quân rầm rộ” nhưng hiệu quả thì phó mặc cho trời. Khi mà người làm cật lực cũng chỉ nhận ngần ấy lạng thóc chia phần, còn kẻ lười biếng trốn việc cũng chẳng chịu đói hơn ai bao nhiêu, thì tâm lý “cha chung không ai khóc” đã ngấm sâu vào từng thớ thịt của người lao động. Họ làm việc trong sự uể oải, đối phó, cốt cho hết giờ kẻng gõ thu quân.
An im lặng bước đi, đôi mắt sâu thẳm quan sát từng chi tiết. Dưới góc nhìn của một kỹ sư công nghệ sinh học nông nghiệp thế kỷ 21, cô nhìn thấu được bi kịch cốt lõi đang thắt nghẹt sức sống của ngôi làng này. Đất đai không phụ lòng người, nhưng cách con người quản lý và khai thác đất đai theo tư duy mệnh lệnh, hình thức đã biến nguồn lực quý giá nhất trở thành gánh nặng.
“An! Hoài An ơi! Chờ tao với!”
Một tiếng gọi giòn giã xen lẫn tiếng thở hồng hộc vang lên từ phía sau. An ngoái lại. Từ con ngõ dốc rợp bóng râm của rặng tre gai, một bóng người tròn trĩnh đang thoăn thoắt chạy tới. Đó là Đặng Thị Đượm.
Chị Đượm hơn An hai tuổi, vóc người đậm đà, phốp pháp hiếm hoi giữa cái thời người người gầy rộc như que củi. Khuôn mặt tròn xoe như trăng rằm của chị ửng đỏ lên vì lạnh và vì chạy vội, mái tóc ngắn ngủn kẹp tạm bằng chiếc cặp ba lá han gỉ. Trên vai chị vắt vẻo chiếc xẻng sắt đúc nặng trịch, hai ống quần xắn cao để lộ đôi bắp chân trắng trẻo, chắc nịch.
Chạy đến bên An, Đượm thở hắt ra một hơi khói trắng phau, đưa bàn tay thô ráp đập nhẹ vào vai cô:
“Con ranh này, sao đi nhanh thế! Mày mới cắt cơn sốt rét có mấy hôm, người ngợm còn mỏng như tờ giấy quyến thế kia mà đã vác cuốc đi vét mương rồi à? U mày không cản mày lại sao?”
Nhìn đôi mắt tròn xoe đầy vẻ lo lắng chân thành của Đượm, An cảm thấy một luồng ấm áp len lỏi qua lồng ngực đang run rẩy vì rét. Cô khẽ mỉm cười, giọng khàn khàn vì sương sớm:
“Nằm mãi trong buồng ngột ngạt lắm chị ạ. Em đỡ mệt rồi, ra đồng vận động cho giãn gân cốt, với lại... ở nhà mãi thì cuối vụ lấy đâu ra công điểm mà đong gạo.”
“Gớm, công với chả điểm!” Đượm bĩu môi, nhưng mắt lại lấm lét nhìn quanh xem có ai trong ban chỉ huy hợp tác xã đi gần đó không. Thấy mọi người đều đang cắm cúi bước đi, chị liền nép sát vào người An, một tay luồn nhanh vào túi chiếc áo bông trần trám đã sờn chỉ ở bên hông.
“Cầm lấy! Nhanh lên, giấu vào túi áo trong ấy!”
An ngạc nhiên khi thấy một vật nong nóng, cưng cứng được ấn dúi dụi vào lòng bàn tay mình. Nhìn xuống, đó là một củ khoai dong luộc to chừng hai ngón tay, lớp vỏ màu nâu xám nứt toác để lộ phần ruột màu trắng trong veo, bột bở tươm mật, bọc khéo léo trong một mảnh lá chuối khô đã hơ lửa cho mềm.
“Chị... cái này ở đâu ra thế?” An thì thầm, sững sờ. Ở cái thời buổi hạt gạo cõng ba bốn phần sắn củ mục này, một củ khoai dong luộc thơm phức, còn nguyên độ nóng ấm như thế này chẳng khác nào một báu vật.
“Hỏi lôi thôi làm gì!” Đượm trừng mắt, nhưng trong ánh nhìn lấp lánh sự tinh nghịch và yêu thương vô bờ bến. “Sáng sớm nay u tao đi đào trộm ở mảnh đất bãi ven sông Đáy đấy. Đất bồi màu mỡ nên củ nó mới mập mạp thế này. Luộc vội được mấy củ, tao giấu một củ mang cho mày lót dạ. Mày vừa ốm dậy, bụng rỗng mà lội bùn nước lạnh thì chỉ có nước lăn đùng ra đấy lại khổ thầy u mày. Ăn mau đi, đừng để mấy mụ bên Đội hai nhìn thấy lại ton hót lên ông Khoát là nhà tao giấu giếm tăng gia ngoài luồng thì khốn!”
Củ khoai dong nằm gọn trong lòng bàn tay An, tỏa ra hơi ấm dịu dàng xua đi cái cóng buốt của buổi sớm. An không từ chối, bởi cô hiểu trong hoàn cảnh này, sự từ chối khách khí chỉ là thứ đạo đức giả ngớ ngẩn. Cơ thể này đang cạn kiệt năng lượng, lượng đường huyết tụt dốc sau nhiều ngày chỉ sống bằng nước cháo hoa loãng và sắn khô.
Cô bẻ đôi củ khoai, đưa nửa có phần mập hơn lại cho Đượm:
“Chị em mình mỗi người một nửa. Chị không ăn cùng thì em cũng chẳng nuốt trôi đâu.”
Đượm ngơ ngác nhìn An, rồi bật cười khúc khích, hàm răng khểnh lộ ra duyên dáng:
“Rõ thật là... cái ngữ vừa ốm thập tử nhất sinh xong mà vẫn gàn dở!”
Nói đoạn, Đượm cầm lấy nửa củ khoai nhỏ hơn, tống tọt vào miệng nhai ngấu nghiến như sợ ai cướp mất. An cũng cắn một miếng nhỏ. Vị ngọt thanh tao, bùi bùi và hơi sần sật của tinh bột khoai dong lan tỏa trên đầu lưỡi, kéo theo cảm giác ấm nóng chạy dọc xuống dạ dày đang quặn thắt. Đó không chỉ là vị ngọt của lương thực, mà còn là hương vị của tình người mộc mạc, bền bỉ của những người phụ nữ nghèo khổ nơi thôn dã, luôn biết sẻ chia từng củ khoai, hạt thóc giữa những tháng năm đói rách cơ cực.
Hai người vừa đi vừa nhai vội, khi bước chân chạm đến con đê bối ngăn lũ của xã thì củ khoai đã nằm gọn trong bụng. Trước mắt họ hiện ra bối cảnh toàn bộ cánh đồng chiêm trũng Đầm Lội — nơi canh tác chính của Đội sản xuất số 3.
Đó là một vạt ruộng trũng sâu hoắm, nằm kẹp giữa con đê bối sông Đáy và dải gò đồi đất đỏ cằn cỗi. Trận lụt lịch sử hồi tháng Tám năm ngoái đã biến nơi này thành một đầm lầy đúng nghĩa. Nước lũ rút đi để lại một lớp phù sa pha cát bồi lấp toàn bộ hệ thống kênh mương tưới tiêu. Trên mặt ruộng, nước tù đọng có màu nâu đỏ quánh đặc của váng sắt và phèn chua, bốc lên mùi tanh nồng nặc đến lợm giọng. Những khóm cỏ lác, cỏ năn mọc tua tủa như chông đóa trên nền bùn nhão.
Hơn bốn mươi xã viên của Đội sản xuất số 3 đã tập trung đông đủ trên bờ đê. Mọi người co ro đứng tựa vào nhau, tiếng càu nhàu, than vãn ngày một râm ran khi nhìn xuống lòng mương đang ngập ngụa bùn lầy sâu đến ngang thắt lưng.
“Nước thế kia thì vớt vát cái nỗi gì? Có mà đông cứng cả người!”
“Ông Khoát giao chỉ tiêu mỗi người phải nạo vét xong ba mét khối bùn đặc trong buổi sáng nay, ai không xong thì hạ xuống công C. Rõ là ép người quá đáng!”
Giữa lúc đám đông đang ồn ào bất mãn, một bóng người từ phía điếm canh đê bước thoăn thoắt lại gần.
Người đàn ông ấy có vóc dáng cao lớn vượt trội, bờ vai rộng và tấm lưng thẳng tắp như cây thông sừng sững giữa gió bấc. Anh mặc một chiếc áo trấn thủ chần bông màu cỏ úa đã sờn rách vài chỗ nơi khuỷu tay, để lộ những đường chỉ mạng lại cẩn thận, tỉ mỉ. Bên dưới là chiếc quần Tô Châu bạc phếch xắn cao quá gối, để lộ đôi bắp chân săn chắc, gân guốc màu đồng hun. Mỗi bước chân của anh bước đi trên mặt đê đất nện đều dứt khoát, chắc nịch, dẫu cho cái chân trái hơi khập khiễng nhẹ — di chứng của một mảnh đạn pháo cày xới ở chiến trường Tây Nam ác liệt mà anh từng tham gia trước khi phục viên về quê.
Khuôn mặt anh góc cạnh, sống mũi cao thẳng, đôi lông mày rậm hơi xếch lên trên đôi mắt đen sâu thẳm, cương trực và đượm vẻ trầm mặc từng trải.
Đó chính là Trần Bình — Đội trưởng Đội sản xuất số 3.
Vừa thấy bóng Bình, đám đông đang ồn ào bỗng dần hạ bớt giọng. Uy tín của Bình ở Đội 3 không phải đến từ chức danh hành chính do xã bổ nhiệm, mà đến từ chính con người anh: một người lính trở về từ cõi chết, nói ít làm nhiều, luôn là người đầu tiên đặt chân xuống bùn sâu và là người cuối cùng rời đồng ruộng.
Bình dừng lại ở mỏm đê cao nhất, đặt chiếc cuốc bàn nặng trịch xuống cạnh chân. Anh đưa mắt đảo qua một lượt khắp các xã viên, ánh mắt nghiêm nghị nhưng không hề có vẻ hách dịch hay quan cách như đám cán bộ chuyên ngồi bàn giấy ở ủy ban.
“Các đồng chí trật tự!”
Giọng Bình trầm ấm, vang rền và dứt khoát, át cả tiếng gió bấc rít qua rặng phi lao ven đê.
“Tôi vừa từ ban quản trị xã về. Ban chủ nhiệm, đích thân đồng chí Bùi Đắc Khoát đã chỉ thị: Toàn xã tập trung chiến dịch ba ngày vét thông toàn bộ tuyến mương dẫn nước từ sông Đáy vào Đầm Lội để chuẩn bị đón nước đổ ải vụ chiêm xuân. Chỉ tiêu huyện giao rất gấp, nếu không xong tuyến mương này trước khi trạm bơm dã chiến hoạt động, toàn bộ diện tích cấy lúa của Đội 3 và Đội 4 sẽ bị trễ lịch thời vụ.”
Một tiếng thở dài tập thể lại vang lên. Một lão nông ngẩng lên phân bua:
“Báo cáo đồng chí đội trưởng, chúng tôi không sợ khó, nhưng mương ngập bùn sâu thế kia, nước thì rét buốt như ngâm đá, lại toàn váng phèn đóng tảng. Lội xuống nửa tiếng là chân tay tê dại, da nứt toác rớm máu cả lượt thì làm sao mà kham nổi định mức ba khối một người?”
Bình nhìn người nông dân già, nét mặt anh dịu lại đôi chút, nhưng ánh mắt vẫn kiên định:
“Tôi hiểu cái khó của bà con. Đất ruộng nhà ai cũng là đất tập thể, cực thì cùng cực chung. Nhưng nếu hôm nay chúng ta vì rét mà lùi bước, bỏ dở dòng mương, thì tháng Ba tới đây cả làng lấy gì bỏ vào mồm? Mùa giáp hạt năm nay sẽ đói hơn năm ngoái gấp mười lần nếu mất vụ chiêm!”
Lời nói của Bình đánh trúng vào nỗi sợ hãi lớn nhất của tất cả mọi người: cái đói. Đám đông im phăng phắc. Cái đói là một thực tế tàn nhẫn, hiển hiện ngay trong từng manh áo rách, từng bữa ăn độn sắn củ mục của mỗi gia đình.
Bình mở cuốn sổ tay bìa bọc ni-lông đã quăn góc giắt ở túi ngực ra, cầm mẩu bút chì cùn:

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…