Xuyên không thập niên 70

Chương 30: Hạt mầm xé rào

Ngọn đèn dầu Hoa Kỳ đặt trên góc bàn gỗ lim chập chờn theo từng cơn gió bấc lùa qua khe liếp. Đốm lửa hạt đỗ đỏ quạch, tỏa ra làn khói mảnh khảnh mang mùi dầu hỏa hăng nồng quen thuộc, hắt bóng hai người đàn ông lên vách đất trát rơm loang lổ.

Bình đứng sững, hai bàn tay buông thõng bên hông bất giác siết chặt lại. Từng thớ cơ trên lồng ngực vạm vỡ của anh căng như dây cung. Đôi mắt người cựu chiến binh dán chặt vào dòng chữ viết hoa nắn nót bằng mực tím trên tập giấy bổi màu vàng sậm: “PHƯƠNG ÁN THỬ NGHIỆM GIAO ĐẤT BÃI VEN SÔNG CHO TỪNG NHÓM HỘ TỰ QUẢN LÝ VÀ CHỊU TRÁCH NHIỆM SẢN PHẨM (LƯU HÀNH NỘI BỘ - TUYỆT MẬT)”.

Là một người lính từng đi qua bom đạn khốc liệt ở chiến trường Tây Nam, Bình hiểu rõ hơn ai hết cái giá của kỷ luật và những ranh giới vô hình thời hậu chiến. Trong bối cảnh cả nước đang gồng mình theo cơ chế quản lý tập trung cao độ, nơi mà từng cân thóc, mớ rau, giọt dầu hỏa đều được đong đếm bằng tem phiếu và công điểm, thì tập giấy mỏng manh nằm trước mặt anh chẳng khác nào một khối thuốc nổ cực mạnh. Nếu nội dung này lọt ra ngoài, nhẹ thì mất chức khai trừ, nặng thì bị quy vào tội phá hoại nền tảng kinh tế tập thể, mầm mống của tư tưởng tư bản tư doanh.

“Chủ nhiệm…” Giọng Bình trầm đục, như bị nén lại trong lồng ngực. “Cái này… đồng chí có biết nếu huyện ủy hay trên tỉnh phát hiện ra thì hậu quả sẽ thế nào không?”

Ông Bùi Đắc Khoát không vội trả lời. Ông kéo chiếc ghế đẩu chân tiện sứt mẻ ngồi xuống, ngón tay run rẩy rút một điếu thuốc lá Tam Đảo quấn sâu kèn, quẹt que diêm bùng lên ngọn lửa le lói. Làn khói thuốc xanh xao cuộn tròn trong không gian ngột ngạt của gian chái đình.

“Tôi biết chứ. Tôi đâu có điếc, đâu có mù!” Giọng ông Khoát nghẹn lại, từng nếp nhăn sâu hoắm trên vầng trán hói rung rinh theo từng lời nói. “Mười mấy năm làm chủ nhiệm, tôi chỉ biết hô hào thi đua, đánh trống ghi tên, xuất quân rầm rộ cờ giong trống mở. Cứ ngỡ thế là tiến nhanh tiến mạnh. Nhưng rốt cuộc thì sao hả Bình? Đất bãi ven sông Đáy phù sa màu mỡ dầy hàng gang tay, vậy mà xã viên chỉ biết rong công làm dối. Đánh kẻng thì đủng đỉnh vác cuốc ra đồng, ngồi bờ đê hút thuốc lào tán gẫu đến trưa, cỏ bờ ruộng cao ngập đầu gối. Năm nào cũng làm bản báo cáo thi đua bóng bẩy, nhưng cuối năm chia công điểm thì mỗi công lao động chỉ đổi được vài lạng thóc lép!”

Ông Khoát đập mạnh bàn tay gầy guộc xuống mặt bàn, làm chiếc chén con bằng sành nảy lên một tiếng “cạch” khô khốc.

“Chú có nhìn thấy mấy đứa lính trẻ trên đoàn xe quân sự hôm nọ không? Bọn nó tuổi mười tám đôi mươi, lên biên giới đánh giặc mà mặt mũi phù thũng vì thiếu ăn, cắn củ sắn luộc mà mắt sáng rực. Còn dân làng mình thì sao? Giáp hạt đến nơi, nhà nào cũng vét đáy bồ, độn sắn củ mục đến đắng ngắt cuống họng. Trâu chết vì rét thì giấu giếm, sợ mất cờ thi đua. Con trâu còn quý hơn bát cơm của con người! Tôi già rồi, năm mươi hai tuổi đầu, vào sinh ra tử thời chống Pháp, chẳng lẽ lại cứ nhắm mắt làm ngơ nhìn cả cái xã An Hòa này lụn bại vì cái thói bình quân chủ nghĩa ấy mãi sao?”

Ánh mắt người chủ nhiệm già hoe đỏ dưới làn khói thuốc. Không còn vẻ kẻ cả, hách dịch hay những câu khẩu hiệu sáo rỗng thường ngày, trước mặt Bình lúc này chỉ là một lão nông đầy day dứt và phẫn uất trước cái đói triền miên của xóm giềng.

Bình kéo ghế ngồi đối diện với ông, bàn tay thô ráp khẽ chạm vào mép tập giấy bổi. Anh lật từng trang. Từng con số tính toán công điểm, định mức phân bón, hạt giống đều được ông Khoát cặm cụi ghi chép tỉ mỉ bằng thứ chữ học trò gãy gọn.

“Đồng chí dự định làm thế nào?” Bình hỏi, ánh mắt đã lấy lại sự sắc bén, điềm tĩnh vốn có.

Ông Khoát ghé sát lại, hạ giọng thì thào chỉ đủ hai người nghe thấy:

“Năm mẫu đất bãi bồi ven sông Đáy phía cuối bãi Soi – nơi vừa rồi vợ chồng chú chỉ đạo dập dịch cho đàn trâu ấy. Mảnh đất đó trước nay hợp tác xã coi là đất phụ, canh tác thất thường, năm ăn năm thua vì sợ lũ tiểu mãn. Tôi muốn giao đứt năm mẫu này cho Đội 3 của chú. Không chấm công điểm theo kiểu 'đánh trống ghi tên' nữa! Đội chú tự chia thành từng nhóm ba đến năm hộ gia đình. Tự cày xới, tự gieo hạt, tự chăm sóc. Hợp tác xã sẽ ấn định một mức sản lượng tối thiểu phải nộp vào kho tập thể để làm nghĩa vụ nhà nước. Còn lại bao nhiêu dôi ra… các hộ tự chia nhau hưởng!”

Trái tim Bình đập thình thịch trong lồng ngực. Đây chính là cách làm mà trong những đêm gác đê lạnh buốt, anh từng mơ hồ nghĩ tới nhưng không dám gọi tên. Đó là trả lại quyền tự chủ và mồ hôi nước mắt cho chính người cầm cày. Khi người ta biết củ khoai, bắp ngô mình nhổ lên sẽ trực tiếp lấp đầy nồi cơm của con cái mình, người ta mới dốc lòng dốc sức xới từng tấc đất.

“Tại sao lại chọn Đội 3?” Bình nhìn thẳng vào mắt cấp trên.

“Vì chỉ có chú và cái An mới làm nổi việc này!” Ông Khoát khẳng định chắc nịch. “Chú là thương binh, là đảng viên có uy tín, có bản lĩnh thép của người lính. Dân Đội 3 một lòng theo chú. Còn cái An… con bé đó không phải người bình thường. Cái đầu nó chứa toàn những điều kỳ diệu mà trường trung cấp nông nghiệp tỉnh cũng chẳng dạy nổi. Cách nó ủ bèo hoa dâu, chế men trấu giữ ấm cho trâu, rồi cứu cả đàn trâu Đội 1 vừa qua… đã chứng minh nó nhìn xa trông rộng hơn bất kỳ ai ở cái xã này. Năm mẫu bãi ấy rơi vào tay vợ chồng chú, tôi tin chắc lúa ngô sẽ trĩu hạt. Nếu thành công, đây sẽ là lối thoát cho toàn xã. Còn nếu đổ bể…”

Ông Khoát ngừng lại, thở hắt ra một hơi dài, nụ cười cay đắng hiện lên trên môi:

“Nếu đổ bể, trên huyện có truy cứu, tôi sẽ đứng ra nhận hết trách nhiệm. Tôi bảo là do tôi quan liêu chỉ đạo sai, không liên lụy đến chú và bà con. Tôi chấp nhận mất chức, về vườn làm ruộng!”

Bình nhìn sâu vào đôi mắt trũng sâu của vị Chủ nhiệm già. Trong khoảnh khắc ấy, sự ngờ vực hoàn toàn tan biến, chỉ còn lại sự kính trọng đối với một người dám đem sinh mạng chính trị của mình ra để đánh cược với cái đói của nhân dân.

“Không, thưa đồng chí,” Bình lắc đầu kiên quyết, giọng đanh như thép nguội. “Nếu đã làm thì cùng gánh. Tôi là đội trưởng, việc trên đồng đất Đội 3 tôi không thể phủi tay đứng ngoài. Nhưng phương án này của đồng chí còn quá sơ sài. Giao khoán kiểu này rất dễ bị quy là chia ruộng tư hữu hóa. Để tôi mang về bàn kỹ với nhà tôi. Cô ấy có kiến thức chuyên môn, sẽ tính toán đường đi nước bước sao cho kín kẽ nhất.”

Ông Khoát mừng rỡ, gật đầu lia lịa rồi run rẩy thu tập giấy nhét vội vào tay Bình:

“Cầm lấy! Đêm nay nghiên cứu kỹ rồi mai cho tôi hay. Nhớ đấy, sống để bụng, chết mang theo, tuyệt đối không được để lọt nửa lời ra ngoài!”

*

Gió đêm mùa đông rít từng hồi qua những rặng tre già ven đê. Màn sương mù dày đặc bốc lên từ mặt sông Đáy phủ một màu trắng đục mờ ảo khắp đường làng ngõ xóm. Bình giấu kỹ tập tài liệu vào trong chiếc áo trấn thủ lót bông dày cộp, chiếc mũ cối sụp thấp che khuất nửa khuôn mặt. Chân trái hơi nhói buốt do vết thương cũ gặp gió lạnh, nhưng bước chân anh vẫn thoăn thoắt, vững chãi băng qua bóng đêm đen đặc.

Vừa bước qua chiếc cổng tre nhà mình, Bình đã thấy ánh đèn dầu ấm áp hắt ra từ ô cửa sổ gian giữa.

Tiếng then cài kẽo kẹt mở ra, An đã đứng đó tự bao giờ. Cô khoác chiếc áo bông cỏ úa đã sờn vai, trên tay cầm chiếc đèn chai chắn gió. Nhìn thấy chồng về, khóe mắt An cong lên một nụ cười dịu dàng, nhưng ngay sau đó, đôi mắt thông minh của cô lập tức nhận ra vẻ nghiêm trọng khác thường trên gương mặt anh.

“Anh vào nhà đi kẻo lạnh,” An thì thầm, nhanh chóng cài then cửa lại. “Em có hãm sẵn ấm nước gừng nấu mật mía trên bếp than, anh uống cho ấm người.”

Bình không nói gì, nắm lấy bàn tay mảnh mai của vợ dắt vào gian buồng trong. Anh thổi tắt ngọn đèn ngoài hiên, chỉ để lại cây đèn dầu nhỏ vặn bấc liu riu trên chiếc chõng tre.

“U ngủ say rồi chứ em?” Bình hỏi nhỏ.

“U mệt nên ngủ từ sớm rồi anh,” An khẽ đáp, ánh mắt tò mò nhìn chiếc áo trấn thủ phồng lên của chồng. “Có chuyện gì hệ trọng ở hợp tác xã vậy anh? Mặt anh căng thẳng lắm.”

Bình cởi cúc áo, cẩn thận rút tập giấy bổi đã hơi ấm hơi người ra đặt lên chõng. Anh kéo An ngồi xuống bên cạnh, nắm chặt lấy tay cô rồi thuật lại toàn bộ cuộc trò chuyện bí mật với ông Khoát ở đình làng.

Căn buồng nhỏ chìm vào sự im lặng tuyệt đối, chỉ có tiếng gió lùa xào xạc trên mái rạ và tiếng than nổ lách tách từ gian bếp ngoài. Bình chăm chú quan sát nét mặt của vợ. Anh từng lo sợ An sẽ hoang mang, sẽ lo lắng trước sự nguy hiểm tột cùng của việc “xé rào” này.

Nhưng trái ngược hoàn toàn với dự đoán của anh, đôi mắt An bỗng sáng rực lên một ngọn lửa kỳ lạ. Là một người đến từ thế kỷ 21, An hiểu quá rõ ý nghĩa lịch sử của thời khắc này. Đây chính là những đốm lửa đầu tiên nhen nhóm cho cuộc cách mạng “Khoán 100” rồi “Khoán 10” sau này – một bước ngoặt vĩ đại giải phóng sức sản xuất của hàng triệu nông dân Việt Nam, xóa bỏ vĩnh viễn bóng ma đói nghèo của thời bao cấp. Những con người dũng cảm như ông Khoát, như Bình chính là những người anh hùng thầm lặng dám đi trước thời đại.

“Anh Bình… đây không phải là cái bẫy, mà là một cơ hội trời cho!” An nắm chặt lấy bàn tay thô ráp của chồng, giọng cô run lên vì xúc động. “Chúng ta phải làm! Nhất định phải làm!”

Bình thoáng ngạc nhiên trước thái độ dứt khoát của vợ:

“Em không sợ sao? Nếu trên huyện hay thanh tra tỉnh biết được, chúng ta sẽ mất hết. Thậm chí anh…”

“Em không sợ!” An ngắt lời chồng, ánh mắt kiên định nhìn thẳng vào anh. “Chiến tranh anh còn không sợ chết, bom đạn Tây Nam anh còn vượt qua được, chẳng lẽ về giữa hòa bình lại để người dân mình chết vì đói? Nhìn bát cơm của u chỉ toàn khoai sẹo với rau má, nhìn con chị Đượm khát sữa khóc ngằn ngặt, lòng em đau như cắt. Đất đai là mẹ nuôi sống con người, giam cầm đất đai trong cơ chế xơ cứng mới là có tội!”

Bình nhìn người vợ trẻ, trong lòng dâng lên một niềm tự hào và cảm phục khôn xiết. Người phụ nữ này luôn như vậy, dịu dàng như dòng nước nhưng bên trong lại ẩn chứa một ý chí kiên cường và tầm nhìn vượt bậc.

“Nhưng phương án của bác Khoát còn thô sơ quá,” An kéo cây đèn dầu lại gần, lấy cuốn sổ tay và cây bút chì từ túi áo ra. “Nếu chỉ nói 'giao đất tự làm tự ăn' thì rất dễ rơi vào tình trạng mạnh ai nấy làm, dẫn đến tranh chấp nguồn nước, phân bón, rồi người ngoài nhìn vào sẽ thấy ngay là chia ruộng tư hữu. Chúng ta phải tổ chức lại thành một quy trình khoa học, gọi là 'Khoán sản phẩm đến nhóm hộ'!”

Ngòi bút chì của An thoăn thoắt vạch lên trang giấy trắng những nét vẽ rành mạch:

“Thứ nhất, năm mẫu đất bãi Soi vẫn thuộc quyền sở hữu tối cao của Hợp tác xã, tuyệt đối không được xé lẻ quyền sử dụng đất. Chúng ta chỉ khoán khâu chăm sóc và thu hoạch cuối cùng.”

“Thứ hai, hợp tác xã chịu trách nhiệm các khâu lớn mang tính tập thể: làm đất bằng cày máy hoặc trâu kéo tập trung của Đội 3, cung ứng giống thuần chủng và điều tiết nước tưới tiêu. Còn các khâu: gieo trồng, làm cỏ, bón phân vi sinh, bảo vệ mùa màng và thu hoạch sẽ giao đứt cho từng nhóm hộ gia đình chịu trách nhiệm.”

“Thứ ba, quan trọng nhất là định mức giao nộp. Đội 3 sẽ cam kết nộp đủ chỉ tiêu sản lượng lúa ngô cho hợp tác xã theo đúng kế hoạch của huyện giao phó, thậm chí vượt năm phần trăm để bác Khoát có cớ báo cáo thành tích. Phần sản lượng vượt khoán còn lại, hợp tác xã sẽ trả công toàn bộ cho nhóm hộ trực tiếp làm ra bằng chính hiện vật đó! Người làm nhiều hưởng nhiều, người làm ít hưởng ít. Như vậy vừa không thất thoát một hạt thóc nào của nhà nước, vừa kích thích bà con dốc sức làm ngày làm đêm!”

Đăng nhập để thả tim Đăng nhập để tương tác

Ủng hộ tác giả ai4
Mỗi lời động viên là động lực để tác giả tiếp tục sáng tác.

ai4

Tác giả của câu chuyện này · Hãy cùng ủng hộ những chương tiếp theo.

Đăng nhập để theo dõi

Bình luận chương 0

Đăng nhập để tham gia bình luận.

Đang tải bình luận…