Xuyên không thập niên 70
Chương 38: Tro cốt người về, mùa vàng gõ cửa
Mùi khói dầu ma-zút nồng nặc hòa lẫn với hương đất đỏ ba-zan ẩm ướt bốc lên từ gầm chiếc Zil-130 khiến lồng ngực Trần Bình nghẹn lại. Đôi ủng cao su dã chiến của anh lún sâu xuống lớp bùn nhão nơi chân dốc đê làng An Hòa. Toàn thân anh ê ẩm rã rời sau chặng đường dài hàng nghìn cây số đằng đẵng từ rẻo cao Tây Nguyên về lại đồng bằng, nhưng vết thương cũ nơi bắp chân trái – dẫu đang nhức buốt từng cơn vì ngấm nước mưa lạnh – cũng chẳng thể ngăn nổi bước chân anh dồn dập hướng về phía triền đê.
Nơi đó, bóng dáng mảnh khảnh quen thuộc đang đứng lặng giữa màn mưa phùn mờ mịt.
Chiếc áo tơi lá cọ khoác trên vai cô đã ướt đẫm, vạt áo dán chặt vào tấm thân gầy gò rộc đi trông thấy. Dưới vành nón mê nghiêng nghiêng, gương mặt An trắng bợt vì những đêm thức trắng và nỗi âu lo vắt kiệt sức lực, nhưng đôi mắt cô – đôi mắt sáng ngời và sâu thẳm như giếng nước đầu làng – đang nhìn trừng trừng vào anh, ngập tràn sự bàng hoàng rồi vỡ òa trong nỗi nghẹn ngào khôn xiết.
Bình nuốt khan một ngụm nước bọt mặn chát nơi cuống họng. Đôi bàn tay thô ráp, chai sần vì báng súng và cán cuốc của anh run rẩy siết chặt lấy quai chiếc ba lô bọc vải dù hoa rừng đang đeo lệch trước ngực. Anh khập khiễng bước từng bước dài leo lên bờ dốc.
“An!”
Tiếng gọi bật ra khỏi lồng ngực Bình, trầm đục và run rẩy, xé toang tiếng mưa ràn rạt trên vòm lá tre ngà.
An không đáp. Cô buông rơi chiếc gậy tre đang chống trên tay, lao thẳng xuống dốc đê trơn trượt. Đôi dép cao su mòn vẹt bấm chặt vào nền đất sét đỏ. Trước khi Bình kịp đưa tay đỡ, cô đã nhào vào lòng anh. Đôi bàn tay nhỏ bé, lạnh ngắt và thô ráp những vết xước bùn đất của An bấu chặt lấy mép áo dã chiến cứng đờ bùn đất của anh, bờ vai nhỏ rung lên bần bật trong từng tiếng nấc nghẹn.
“Anh về thật rồi... Bình ơi... Anh không sao thật rồi...” Giọng An lạc đi, hơi thở ấm nóng của cô phả vào hõm cổ anh, hòa lẫn với những giọt nước mắt nóng hổi thấm qua lớp vải bạt bạc màu.
Bình ôm chặt lấy An bằng cánh tay phải rắn như sắt nguội, tay kia vẫn cẩn trọng giữ chặt bọc hành lý trước ngực như giữ lấy sinh mệnh của chính mình. Anh vùi cằm vào mái tóc thơm mùi bồ kết và khói bếp của vợ, cảm nhận rõ rệt từng đốt xương sườn gầy guộc của cô đang run rẩy. Suốt sáu ngày đêm bị cô lập giữa tâm lũ đèo Mang Yang, giữa những tiếng gầm gào của núi lở và những dòng thác đất bùn đỏ quạch chực nuốt chửng cả trung đội công binh, hình bóng duy nhất níu giữ tâm trí anh, tiếp thêm sức mạnh cho anh bám trụ chính là gương mặt này, ánh mắt này.
“Tôi về rồi. Anh về với em rồi đây,” Bình thì thầm bên tai vợ, giọng anh khản đặc sau chuỗi ngày gào thét trong mưa bão chỉ huy dọn đường. “Đừng khóc nữa... Ngoan nào, u ở nhà thế nào rồi em?”
“U qua cơn nguy kịch rồi, thuốc sắc của cụ lang và cháo hoa gừng đã giúp u hồi tỉnh. Mấy hôm nay u cứ lần tràng hạt khấn suốt...” An ngước lên, đôi mắt đỏ hoe nhìn chăm chú vào từng vết trầy xước trên gương mặt sạm đen vì nắng gió chiến trường của chồng. Rồi ánh mắt cô rơi xuống bọc vải dù hoa rừng buộc dây dù cẩn mật trước ngực anh. Đồng tử cô khẽ co lại, hơi thở dồn dập ngưng trệ: “Anh... cái này...”
Bình buông nhẹ An ra một chút, ánh mắt anh chùng xuống, trang nghiêm và đượm một nỗi đau đớn thiêng liêng. Anh cẩn thận dùng hai tay nâng bọc hành lý lên, khẽ gật đầu:
“Anh đã tìm thấy anh Nam rồi. Nằm ở mé đồi phía tây cao điểm Đắk Tô, đúng theo sơ đồ và chiếc bi-đông của thầy. Đội K53 và Tỉnh đội đã phối hợp cất bốc trọn vẹn. Lũ quét tràn qua chia cắt đường 19, đất đá vùi lấp cả xe công binh, anh phải ôm ba lô này lội bộ ngược suối ba mươi cây số để đón chuyến xe chuyển vận của Quân đoàn 3... Anh Nam... anh ấy về với đất mẹ rồi, An ạ.”
Nghe đến đó, An đưa đôi bàn tay run rẩy sờ lên lớp vải bạt. Qua lớp dù hoa rừng và lá cờ Tổ quốc đỏ thắm lót bên trong, cô chạm vào chiếc quách gỗ nhỏ bằng danh mộc Tây Nguyên. Những giọt nước mắt kìm nén bấy lâu vỡ òa, cô quỳ sụp xuống vệ cỏ ven đê, ôm lấy kỷ vật của người anh trai đã ngã xuống trong những ngày cuối cùng của cuộc chiến tranh vệ quốc.
Tin Trần Bình trở về bình an vô sự và mang theo hài cốt liệt sĩ Nguyễn Hoài Nam lan nhanh như một ngọn lửa dọc theo triền đê sông Đáy.
Chỉ trong vòng mười lăm phút, từ khắp các ngõ xóm, bà con xã viên Đội 3, rồi cả bà con Đội 1 bồng bế, dắt díu nhau ùa ra chật kín đầu làng. Đồng chí Đỗ Luận mặc nguyên bộ cảnh phục sũng nước mưa, dẫn đầu tốp dân quân chạy tới, trang nghiêm giơ tay chào điều lệnh trước chiếc ba lô phủ cờ đỏ sao vàng. Chủ nhiệm Bùi Đắc Khoát thở không ra hơi, chiếc mũ cối kẹp nách, đôi mắt giàn giụa nước vì vừa mừng cho đứa cháu rể dũng cảm thoát chết trở về, vừa kính cẩn nghiêng mình trước linh hồn người lính trinh sát.
Chiều hôm ấy, một lễ đón nhận và an táng hài cốt liệt sĩ trang nghiêm chưa từng có đã diễn ra tại Nghĩa trang Liệt sĩ xã An Hòa.
Trời mưa phùn bỗng ngớt hạt, nhường chỗ cho một khoảng trời hanh hao vàng vọt của buổi hoàng hôn cuối xuân. Cụ Khiêm đứng bên miệng huyệt mới đào, tấm áo lương the đen phủ trên dáng người gầy cộc run lên từng chặp. Đôi bàn tay cụ run rẩy áp vào chiếc bi-đông nhôm sứt sẹo có khắc ba chữ cái “H-N-A” mà Bình vừa trao lại. Nước mắt của người cha già từng trải qua bao cuộc tao loạn lặng lẽ rớt xuống nắp quách gỗ.
“Về là tốt rồi... Con về được với đồng bãi quê hương, về với dòng sông Đáy là tốt rồi con ơi...” Cụ Khiêm nghẹn ngào, giọng trầm ấm như muốn ru người con trai đã nằm lại nơi rừng thiêng nước độc suốt bốn năm ròng yên giấc ngàn thu.
U Mẫn được chị Đượm và mấy chị em phụ nữ Đội 3 dìu đứng bên cạnh. Bà cụ sụt sùi chấm vạt áo nâu lau nước mắt, thắp từng nén hương trầm thơm ngát cắm lên nấm mộ mới đắp. Hương trầm bảng lảng quyện vào làn khói lam chiều, phủ lên vùng nghĩa trang một vẻ ấm áp lạ kỳ. Đứng bên cạnh An, Bình nắm chặt lấy bàn tay lạnh buốt của vợ. Những ngón tay của An dần ấm lại trong lòng bàn tay anh. Một gánh nặng tâm linh đè nặng lên gia đình cụ Khiêm suốt bao năm qua cuối cùng đã được trút bỏ, để lại sự thanh thản và niềm tự hào sâu lắng trong lòng mỗi người dân An Hòa.
*
Sau ngày đón anh Nam về đất mẹ, nhịp sống khẩn trương của vụ chiêm xuân lại cuốn phăng đi những giọt nước mắt đau thương, thay vào đó là sự sôi động, hối hả của một mùa vàng đang độ chín rộ.
Vết thương ở chân Bình qua bàn tay chăm sóc, đắp thuốc lá bàng và bôi cao nghệ của An chỉ ba ngày sau đã se miệng, không còn sưng tấy. Vừa chống gậy đi lại vững vàng, Bình đã lập tức khoác chiếc áo bảo hộ màu cỏ úa bạc phếch, cùng An ra thẳng bãi Soi.
Đứng trên mặt đê nhìn xuống, cảnh tượng trước mắt khiến Bình sững sờ, tim anh đập thình thịch những nhịp rộn rã đầy kinh ngạc.
Mười lăm mẫu bãi bồi ven sông Đáy – nơi mà chỉ mấy tháng trước còn là bãi đất pha cát khô cằn, sỏi đá lổn nhổn, chỉ có cỏ may và lau sậy còi cọc – nay đã biến thành một dải lụa vàng xanh bát ngát, tràn trề nhựa sống. Dưới ánh nắng vàng như mật ong của những ngày cuối tháng tư, từng hàng ngô răng ngựa cao vượt đầu người, thân cây mập mạp, chắc nịch như những cây mía tím, thẳng tắp tắp tắp theo từng luống quy củ. Những bắp ngô to bằng bắp tay người lớn, râu ngô chuyển sang màu nâu sẫm, vỏ bẹ bên ngoài đã khô se, để lộ ra những hạt ngô mẩy tròn, vàng óng ả chen chúc nhau kín mít đến tận đầu bắp.
Xen kẽ dưới chân các gốc ngô, tầng thấp là thảm đậu tương xanh rờn đang độ già cỗi chuẩn bị thu hoạch. Những chùm quả đậu dày đặc, sai trĩu từ gốc lên đến ngọn, bọc một lớp lông tơ mịn màng óng ả. Đất phù sa dưới gốc nhờ lớp thảm phủ vi sinh bèo hoa dâu kỵ khí mà An dày công hướng dẫn bà con ủ từ đầu vụ nay tơi xốp lạ thường, đen nhánh màu mỡ, bốc lên mùi thơm ngai ngái của mùn hữu cơ chứ không hề khô cứng nứt nẻ như các khu ruộng lân cận.
“Anh thấy thế nào?” An đứng bên cạnh, nghiêng đầu nhìn anh, nụ cười rạng rỡ nở trên gương mặt đã có lại chút hồng hào tươi tắn.
Bình cúi người xuống, bẻ thử một bắp ngô bên rìa luống. Bắp ngô nặng trịch trên tay. Anh dùng ngón tay cái tách lớp vỏ bẹ khô khốc, để lộ ra những hàng hạt đều chằn chặn như bắp răng ngọc, bấm móng tay vào nghe một tiếng tách giòn giã, nhựa bột ngô trắng ngà tươm ra thơm phức.
“Kỳ diệu quá, An ơi...” Bình lẩm bẩm, giọng anh run lên vì xúc động. Là một người lính trở về làm nông dân, gắn bó với đồng ruộng An Hòa từ thuở cắt rốn chôn rau, chưa bao giờ anh thấy ngô bãi bồi lại đạt được tầm vóc và độ mẩy hạt phi thường như thế này. “Đất bãi Soi chưa bao giờ cho bắp ngô to đến thế này! Đợt rầy nâu hôm trước... không để lại chút tì vết nào sao?”
Chị Đượm từ luống trong lội ra, nón quai thao hất ngược ra sau lưng, hai tay ôm một bó cành đậu tương sai lúc lỉu, cất tiếng cười giòn tan:
“Anh Bình ơi là anh Bình! Anh phải hỏi xem cô An nhà anh đã thức mấy đêm liền, chế ra cái thứ thuốc trừ sâu từ tỏi ớt với nước vôi tro bếp thần tình thế nào chứ! Hôm ấy mà không có cô An chỉ huy, rồi Đội 1 kéo sang trợ lực, thì đám rầy nâu nó xơi tái cái dải băng số bốn rồi! Giờ thì anh nhìn xem, cả bãi Soi mười lăm mẫu, đố anh tìm thấy một bắp nào bị sâu đục hay hạt lép đấy!”
Bình quay sang nhìn vợ. Ánh mắt anh tràn ngập sự khâm phục và lòng biết ơn vô hạn. Anh hiểu rõ, đằng sau sự trù phú rực rỡ của bãi Soi hôm nay không chỉ có mồ hôi nước mắt của mười bốn hộ xã viên Đội 3, mà trên hết là trí tuệ, là bản lĩnh kiên cường của An – người phụ nữ đã một mình gánh vác cả gia đình lẫn tập thể trong những ngày tháng anh cận kề cái chết nơi rừng sâu.
Đúng lúc đó, tiếng kẻng đồng từ điếm canh đê vang lên dồn dập, giòn giã:
“Keng! Keng! Keng! Keng...”
Đó là hiệu lệnh thu hoạch của Đội sản xuất số 3.
Từ trên triền đê, hơn năm mươi con người – gồm mười bốn hộ nòng cốt của Đội 3, cùng hàng chục thanh niên, phụ nữ Đội 1 được điều động sang hỗ trợ gặt đổi công – rầm rộ túa xuống bãi bồi. Tiếng cười nói, tiếng liềm hái va vào nhau xủng xoảng xua tan hoàn toàn không khí vắng lặng của triền sông.
“Bắt đầu thu hoạch thôi bà con ơi!” Bình dằn chiếc nạng tre sang một bên, đứng thẳng người trên bờ mương dẫn nước, cất giọng sang sảng chỉ huy như một vị tướng trận. “Tổ một thu hoạch ngô bẻ bắp, phân loại tại ruộng! Tổ hai cắt gốc đậu tương, gom thành từng bó chuyển lên bờ phơi! Chú ý giữ lại toàn bộ thân cây ngô và rễ đậu để băm nhỏ ủ phân xanh cho vụ sau!”
“Rõ rồi, đội trưởng ơi!” Tiếng đáp vang dội khắp cánh đồng.
Trận chiến thu hoạch diễn ra tưng bừng như một ngày hội lớn. Những đôi bàn tay thoăn thoắt bẻ từng bắp ngô chắc nịch quẳng vào sọt tre. Tiếng bắp ngô gãy rắc rắc rộn ràng khắp các luống đất. Những chiếc xe cải tiến ken két lăn bánh trên bờ vùng bờ thửa, chất đầy ắp những ngọn đồi ngô vàng rực. Đậu tương được gánh từng gánh kĩu kịt lên sân kho hợp tác xã, trải rộng trên những tấm cót đan bằng tre nứa để đón nắng.
Không khí lao động hăng say kéo dài liên tục suốt ba ngày ròng rã.
Mỗi buổi trưa, An lại cùng chị Đượm và u Mẫn gánh những nồi nước chè xanh om lá sen thơm ngát cùng rổ khoai lang luộc bốc khói nghi ngút ra tận bờ ruộng tiếp sức cho bà con. Nhìn mọi người vừa ăn khoai vừa tấm tắc khen hạt ngô Đội 3 năm nay ngọt đậm, hạt đỗ tròn vo béo ngậy, lòng Bình dâng lên một niềm kiêu hãnh khôn tả.
Đến chiều ngày thứ tư, công việc thu hoạch và tuốt hạt cơ bản hoàn tất. Sân kho Đội 3 chật ních những bao tải cói và cót quây chứa đầy ngô hạt đã phơi se và đậu tương mẩy tròn.
Chủ nhiệm Bùi Đắc Khoát dẫn đầu Ban Quản trị Hợp tác xã cùng kế toán trưởng xách chiếc cân tạ chân quỳ và chiếc bàn tính gẩy bằng gỗ mun xuống tận sân kho để trực tiếp chỉ đạo cân đong, nghiệm thu sản lượng.
Mặt trời xế bóng, ánh hoàng hôn nhuộm đỏ rực sân kho. Chiếc kim đồng hồ cân tạ nhảy tanh tách sau mỗi bao ngô được đặt lên bàn cân. Tiếng hạt bàn tính kêu lách cách giòn giã dưới bàn tay thoăn thoắt của cô kế toán:
“Bao thứ một trăm hai mươi... Sáu mươi mốt cân!”

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…