Xuyên không thập niên 70
Chương 37: Vượt bão lửa lòng
Vết kim loại sắc lẹm của chiếc kẹp tóc bằng vỏ đạn pháo cứa sâu vào lòng bàn tay An, buốt nhói. Một giọt máu đỏ tươi rỉ ra, thấm qua kẽ ngón tay rồi nhỏ xuống nền đất đá xanh trước cửa đình làng. Nhưng cơn đau thể xác ấy chẳng thấm tháp gì so với luồng điện lạnh ngắt vừa giáng xuống đỉnh đầu cô, xé toạc màng nhĩ và bóp nghẹt lồng ngực đến mức không thể thở nổi.
Bốn ngày bốn đêm mất liên lạc trong rừng sâu nước lũ.
Cả một vạt núi sạt lở đè xuống con đường độc đạo trên đèo Mang Yang.
Trần Bình, đội K53, cùng chiếc xe tải quân sự của đoàn công tác bặt vô âm tín giữa chốn rừng thiêng nước độc của chiến trường Tây Nguyên xưa.
“Cháu An... Cháu An ơi!”
Tiếng gọi thảng thốt của Đỗ Luận kéo An giật mình thoát khỏi cơn bàng hoàng tê dại. Người cựu chiến binh dạn dày khói lửa, Trưởng công an xã nổi tiếng gan lì của đất An Hòa, lúc này đôi mắt đỏ hoe, vội vàng bước tới chìa tay ra như muốn đỡ lấy cô vì sợ cô sẽ ngã quỵ xuống đất. Cách đó vài bước, mấy cán bộ ủy ban xã vừa nghe phong phanh mẩu tin dữ cũng lặng người đi, nét mặt ai nấy đều xám ngoét lại như tro nguội.
An chớp mắt, hít sâu một hơi dài. Không khí cuối chiều ẩm ướt mang theo mùi bùn sông Đáy sặc sụa xộc vào cánh mũi, làm cay xè cuống họng.
Cô không ngã. Đôi chân mảnh khảnh mang đôi dép cao su đúc của cô vẫn cắm chặt trên thềm đá, vững như một chiếc cọc tre đóng xuống bờ đê. Bằng một sự điềm tĩnh phi thường nảy sinh từ tận đáy tuyệt vọng, An siết chặt bàn tay đang rỉ máu lại thành nắm đấm, giấu ra sau tà áo sơ mi bảo hộ màu cỏ úa.
“Chú Luận...” Giọng An khàn đặc, nhưng từng từ thốt ra đều rành rọt, không hề run rẩy như người ta tưởng. “Điện tín của Tỉnh đội chỉ ghi là ‘mất liên lạc’... chứ chưa có thông báo thương vong, phải không chú?”
Đỗ Luận giật mình trước câu hỏi của cô. Anh ngập ngừng giở lại tờ giấy mỏng màu vàng rơm, gật đầu thật mạnh:
“Đúng... Đúng thế! Chỉ ghi là đứt đường dây thông tin, sạt trượt đất đá cắt đứt giao thông toàn tuyến đường 19 qua đèo Mang Yang, các đội cứu hộ của Quân đoàn Ba và Tỉnh đội Gia Lai đang dồn lực san đường mở lối tìm kiếm. Chưa... chưa có tin gì xấu hơn!”
“Chưa có tin xấu, tức là còn sống.” An nói, ánh mắt rực sáng một cách kỳ lạ giữa gương mặt trắng bệch. “Anh Bình là lính trinh sát Tây Nam. Anh ấy từng lội qua hàng chục bãi mìn, từng sống sót sau những trận phục kích ác liệt nhất ở biên giới. Địa hình rừng núi hiểm trở anh ấy hiểu rõ hơn ai hết. Một trận lũ rừng không thể nào cướp mất mạng sống của anh ấy được!”
Nói đoạn, An quay phắt người lại, nhìn về phía con đường dẫn về xóm Trại:
“U cháu... U Mẫn ở nhà đã biết chuyện chưa chú?”
Câu hỏi ấy khiến Đỗ Luận sực tỉnh, mặt anh biến sắc:
“Chết dở! Lúc nãy tôi đạp xe từ bưu điện huyện về ngang qua quán nước đầu làng, thấy mấy mụ buôn chuyến xì xào việc bưu điện huyện nhận điện khẩn quân sự... Sợ là tin đồn nhảm đã lan về tới xóm rồi!”
Tim An thắt lại như có ai dùng dây thừng siết chặt. Cô không kịp chào Đỗ Luận thêm một câu, lập tức sải bước thoăn thoắt, chạy thục mạng về phía xóm Trại.
Con đường đê chiều muộn gió thổi phần phật. Những rặng tre hai bên bờ sông Đáy ken dày vào nhau phát ra những tiếng cọt kẹt rợn người. An vừa chạy vừa thở dốc, từng nhịp đập nơi lồng ngực gõ dồn dập vào tâm can cô.
Cô không cho phép mình suy sụp. Ở thời hiện đại, cô từng là một nhà khoa học, được rèn luyện để giữ cái đầu lạnh nhất trước những biến cố ngặt nghèo nhất; còn ở thời đại này, cô là vợ của Trần Bình, là con dâu của người mẹ già cả đời đã cạn khô nước mắt vì chiến tranh. Bình đã đi xa, đã trao gửi cơ ngơi và cả gia đình lại cho cô gánh vác. Nếu bây giờ cô ngã xuống, ai sẽ là chỗ dựa cho u Mẫn? Ai sẽ che chở cho bãi Soi đang bước vào giai đoạn quyết định sống còn?
Vừa rẽ vào ngõ tre dẫn tới ngôi nhà ba gian lợp mái rạ, một cảnh tượng nhói lòng đập thẳng vào mắt An.
Mấy người phụ nữ trong xóm đang xúm xít quanh cổng. Tiếng chị Đặng Thị Đượm khóc thét lên thất thanh:
“U ơi! U Mẫn ơi! Tỉnh lại đi u ơi! Bớ làng nước ơi, cụ Khiêm ơi!”
Bên bậc thềm gạch rêu phong, chiếc nón mê rách rưới rơi chỏng chơ bên rổ rau muống hái dở văng tung tóe. Bà cụ Mẫn nằm lịm đi trên tay chị Đượm, gương mặt nhăn nheo xám ngắt không còn giọt máu, đôi môi thâm sì mím chặt lại, hơi thở mỏng manh như sợi khói chiều đông.
Cách đó không xa, cụ giáo Khiêm đang lập cập chống chiếc gậy trúc chạy từ bên nhà sang. Đôi bàn tay gầy gò nổi đầy gân guốc của người cha già run rẩy bám chặt vào then cổng tre, cả thân hình còng rộc chao đảo như sắp quỵ ngã. Tin sét đánh về đứa con rể - người đồng chí mà ông hết mực tin yêu, người đang trên đường đi tìm nắm xương tàn của Hoài Nam con trai ông - như một nhát dao chí mạng đâm thẳng vào ngực cụ.
“U!”
An lao tới như một cơn gió, quỳ sụp xuống bên thềm gạch. Sự hoảng loạn chực chờ bùng lên trong đáy mắt lập tức bị bản lĩnh phi thường của cô đè nén xuống. Cô nhanh chóng đặt ngón tay lên động mạch cổ của u Mẫn, rồi ghé tai vào lồng ngực gầy guộc của bà.
Mạch đập rất nhanh và nông, huyết áp tụt dột ngột do sang chấn tinh thần quá lớn. Đây là triệu chứng trụy mạch do sốc!
“Chị Đượm, đỡ u nằm ngửa thẳng ra thềm, kê cao hai chân u lên!” An quát to, giọng đanh thép và dứt khoát đến mức khiến chị Đượm đang luống cuống khóc lóc cũng phải nín bặt, vội vàng làm theo. “Mọi người tản rộng ra, đừng vây kín lại nữa, để thoáng khí cho u thở!”
An gạt phắt mái tóc lòa xòa trước trán, dùng đầu ngón tay cái bấm thật mạnh vào huyệt nhân trung ngay dưới vòm mũi của u Mẫn. Cô giữ chặt, day đều với một lực chuẩn xác. Được chừng mười giây, bà cụ Mẫn run rẩy giật giật mi mắt, phát ra một tiếng nấc nghẹn ngào từ sâu trong cổ họng:
“B... Bình ơi... Con ơi...”
“U! Con đây, An đây u!” An ghé sát mặt mình vào má mẹ chồng, giọng cô run lên nhưng tràn đầy sự ấm áp, truyền sinh khí vào thân thể cạn kiệt của bà cụ. “U mở mắt nhìn con này, anh Bình không sao cả! Anh ấy chỉ bị tắc đường do lũ rừng thôi, công điện quân đội báo rõ ràng là anh ấy không việc gì!”
Đôi mắt đục mờ của u Mẫn từ từ hé mở. Nhìn thấy gương mặt đẫm mồ hôi của An, hai dòng nước mắt già nua ứa ra từ khóe mắt sâu hoắm, lăn dài trên những nếp nhăn nheo:
“An ơi... Thằng Bình nhà u... Mười mấy năm trời u tiễn anh nó đi, anh nó không về... Giờ lại đến nó... Rừng thiêng nước độc, lũ cuốn đá đè thế kia thì con tôi sống làm sao được hở trời...”
Bà cụ nấc lên từng hồi, đôi bàn tay gầy như cành củi khô bấu chặt lấy vạt áo An, run rẩy bần bật.
Cụ giáo Khiêm lúc này đã bước tới bậc thềm, đứng tựa vào chiếc cột quân bằng gỗ xoan. Người thầy giáo già cả đời nếm trải bao phong trần, từng tiễn con trai cả ra trận rồi nhận về tấm giấy báo tử đỏ lòm màu máu, giờ đây lồng ngực ông phập phồng đau đớn. Ông nhìn con dâu họ Trần, rồi nhìn sang con gái ruột của mình, khóe mắt đỏ hoe, chòm râu bạc rung rinh:
“An... Thật sự... là tin dữ từ miền trong hả con?”
An ngẩng đầu lên, nhìn thẳng vào mắt cha mình, rồi cúi xuống nhìn u Mẫn. Cô nắm chặt lấy đôi bàn tay lạnh ngắt của mẹ chồng, dùng chính hơi ấm từ lồng ngực mình sưởi ấm cho bà:
“Thầy, u, nghe con nói đây! Anh Bình không phải người bình thường, anh ấy là một chiến sĩ trinh sát đã vào sinh ra tử suốt bao năm ở chiến trường miền Tây Nam. Nước lũ đèo Mang Yang dữ thật, nhưng anh ấy biết cách tìm hang đá, biết cách sinh tồn trong rừng sâu. Tỉnh đội và Quân đoàn Ba đang điều cả xe ủi, xe công binh vào mở đường tìm kiếm. Nếu anh ấy có mệnh hệ nào, quân đội đã báo tử rồi, đằng này chỉ là tạm thời mất liên lạc mà thôi!”
An cắn chặt môi, từng lời nói của cô như đinh đóng vào cột, mang theo một sức mạnh tinh thần kiên cố:
“Anh Bình đã hứa với con, hứa trước bàn thờ tổ tiên là sẽ cõng anh Nam bằng xương bằng thịt về trước sân nhà này. Người như anh Bình, một lời hứa nặng tựa thái sơn, chưa làm xong lời hứa thì trời đất cũng không bắt anh ấy đi được! U phải tin con, phải giữ gìn sức khỏe để đợi anh ấy về!”
Lời nói dứt khoát, đĩnh đạc và niềm tin mãnh liệt tỏa ra từ người phụ nữ trẻ như một liều thuốc trợ tim diệu kỳ. Đôi mắt đục ngầu của u Mẫn khẽ chớp, tiếng khóc nghẹn dần chuyển thành những hơi thở sâu hơn. Cụ giáo Khiêm nhắm nghiền mắt lại, khẽ gật đầu, đưa bàn tay run rẩy vỗ nhẹ lên vai An:
“Con nói phải... Nó là người nhà họ Trần, là người lính của Cụ Hồ. Nó kiên cường lắm... Chúng ta ở hậu phương, không được tự mình làm rối lòng mình trước.”
An thở phào một hơi nhẹ nhõm, nhưng cô biết thể trạng của u Mẫn lúc này cực kỳ nguy hiểm. Bà vốn có bệnh tim và chứng huyết áp thấp kinh niên của người già suy dinh dưỡng thời bao cấp, lại phải chịu cú sốc tinh thần quá nặng.
“Chị Đượm, giúp em đỡ u vào giường nằm!” An quay sang dặn dò. “Lấy cho em chiếc chăn chiên đắp kín chân cho u. Em xuống bếp đun nước gừng.”
An thoăn thoắt bước xuống gian bếp ám đầy bồ hóng. Đôi tay cô không hề run rẩy. Cô bới tro bếp, thổi bùng ngọn lửa đỏ từ mớ rơm khô, đặt lên kiềng chiếc ấm sứt vòi. Lấy một củ gừng già trong rổ, cô rửa sạch bùn đất, đập giập trên thớt gỗ rồi thả vào nồi nước sôi sùng sục, thêm vào đó một thìa đường đỏ mậu dịch - thứ đường quý giá cô dành dụm bấy lâu từ tiêu chuẩn thương binh của Bình.
Vị cay nồng của gừng tươi và vị ngọt ấm của đường đỏ sẽ giúp làm ấm kinh mạch, kích thích tuần hoàn máu và nâng huyết áp cho u Mẫn.
Chưa dừng lại ở đó, An mở chiếc hòm gỗ nhỏ của mình, lấy ra mấy gói lá thuốc thảo mộc phơi khô mà cô đã cẩn thận tích trữ từ mùa đông năm ngoái: hoa hòe sao vàng, ngải cứu khô và củ bình vôi thái lát. Với tri thức sinh học và dược liệu học sâu rộng, An biết rõ củ bình vôi chứa hoạt chất rotundin có tác dụng an thần, trấn tĩnh thần kinh cực mạnh mà không gây độc hại, kết hợp với hoa hòe giúp làm bền thành mạch, ngăn ngừa nguy cơ đột quỵ do tai biến mạch máu não.
Cô thoăn thoắt bốc từng vị thuốc, rửa qua nước ấm rồi cho vào chiếc siêu đất nhỏ, chụm thêm củi đun liu riu trên bếp than. Mùi thơm ngai ngái, ấm nồng của thảo dược nhanh chóng lan tỏa khắp gian bếp nhỏ, xua đi bầu không khí u ám, lạnh lẽo đang bao trùm lên ngôi nhà.
Mãi đến khi An bón từng thìa nước gừng ấm cho u Mẫn, rồi dỗ bà uống cạn bát thuốc an thần, hơi thở của bà cụ mới dần trở nên đều đặn. Dưới tác dụng của vị thuốc bình vôi, đôi mắt mệt mỏi của u Mẫn dần khép lại, bà chìm vào giấc ngủ sâu hiếm hoi sau cơn chấn động kinh hoàng.
Cụ giáo Khiêm ngồi bên bàn nước, lặng lẽ nhìn con gái thu dọn bát đĩa. Trong ánh sáng leo lét của ngọn đèn dầu hoa kỳ, ông nhìn thấy rõ vệt máu khô trên mu bàn tay con gái, và đôi mắt thâm quầng vì những đêm thức trắng lo toan.
“An này...” Cụ Khiêm cất giọng trầm buồn. “Tay con bị làm sao thế kia?”
An giật mình, vội giấu bàn tay vào túi áo, mỉm cười gượng gạo:
“Dạ không có gì đâu thầy, ban chiều ngoài bãi Soi con vô ý bị vỏ bắp ngô cứa phải thôi ạ.”
Cụ Khiêm thở dài một tiếng, ánh mắt chan chứa tình thương xót:
“Con không cần phải gồng mình lên trước mặt thầy đâu. Thầy hiểu... Con đang đau đớn, đang lo sợ hơn bất kỳ ai. Thằng Bình là chồng con, là người đầu ấp tay gối...”
Cổ họng An nghẹn ứ lại. Đôi vai cô khẽ run lên một thoáng, nhưng cô lập tức ngẩng cao đầu:
“Thầy... Con lo chứ, ruột gan con như có ngọn lửa thiêu đốt. Nhưng con biết, lúc này con tuyệt đối không được khóc. U chỉ còn trông cậy vào con. Và cả Đội 3 nữa, mười bốn hộ xã viên đang nhìn vào con. Nếu con gục ngã, bãi Soi sẽ tan hoang, bản cam ước khoán hộ của chúng con sẽ thành miếng mồi ngon cho những kẻ rắp tâm phá hoại. Con phải đứng vững, thay anh Bình giữ trọn mảnh đất này cho đến ngày anh ấy trở về!”
Nhìn ánh mắt kiên định như ngọn lửa bập bùng trong đêm tối của con gái, cụ giáo Khiêm lặng đi hồi lâu. Người thầy giáo già gật đầu, trong mắt ánh lên niềm tự hào sâu sắc:
“Tốt... Tốt lắm con gái. Họ Nguyễn nhà ta chưa bao giờ lùi bước trước giông bão. Con cứ yên tâm lo việc đồng áng, bên này việc chăm sóc u Mẫn, thầy và bà con chòm xóm sẽ đỡ đần cho con.”
Đêm hôm đó, làng An Hòa chìm vào một sự im lìm ngột ngạt.
Trong gian buồng nhỏ của hai vợ chồng, ngọn đèn dầu vặn nhỏ bằng hạt đỗ hắt bóng An lên vách đất trát rơm. U Mẫn đã ngủ say ở gian ngoài, tiếng thở nặng nhọc thi thoảng lại cất lên từng hồi.
Chỉ còn lại một mình trong căn phòng vắng tanh, An mới cho phép bức tường phòng thủ kiên cường của mình buông xuống. Cô ngồi xuống bên chiếc bàn con mộc mạc, nơi chiếc bi-đông của anh trai cô từng đặt ở đó, nơi chiếc áo bảo hộ sờn vai của Bình vẫn còn vắt trên mắc tre đầu giường, thoang thoảng mùi mồ hôi mằn mặn quen thuộc của anh.
An đưa tay chạm vào vạt áo ấy, kéo nó vào lòng. Những giọt nước mắt kìm nén suốt từ chiều giờ đây mới lặng lẽ trào ra, nóng hổi lăn dài trên má, thấm ướt vạt vải thô ráp.
“Anh Bình... Anh đang ở đâu?” Cô thì thầm, tiếng nấc nghẹn ngào chìm vào màn đêm sâu thẳm. “Anh có nghe thấy tiếng em gọi không? Rừng Tây Nguyên mưa to lắm phải không anh? Anh có bị đói, bị rét không? Vết thương ở chân anh mỗi khi trở trời lại nhức buốt, anh có mang theo cao xoa bóp không?...”
Nỗi sợ hãi nguyên thủy của một người phụ nữ mất đi chỗ dựa lớn nhất trong đời cuộn trào lên như sóng dữ. Thời đại này không có điện thoại, không có mạng viễn thông, cách nhau một dãy Trường Sơn là cách biệt cả một thế giới mịt mù. Một trận lũ quét nơi rừng sâu có thể xóa sổ tất cả chỉ trong chớp mắt.
Nhưng rồi, ký ức về ánh mắt cương trực, về cái nắm tay ấm áp và giọng nói trầm ấm của Bình lại hiện về rõ mồn một trong tâm trí cô: “An này, dù có chuyện gì xảy ra, em cũng phải nhớ rằng lòng anh luôn hướng về mái nhà này, hướng về em. Em cứ yên tâm ở nhà, anh nhất định sẽ về!”
An quệt mạnh giọt nước mắt trên khóe mi. Đôi mắt cô lại trở nên trong vắt và sắc lạnh.
Cô đứng dậy, bước ra phía chái nhà sau vườn. Dưới gốc cây ổi cổ thụ, nơi cô đã cẩn thận chôn chiếc ống nứa niêm phong bản cam ước mười bốn dấu tay chỉ điểm của Đội 3, mặt đất vẫn phẳng lặng, lớp lá khô phủ kín không hề có dấu vết xáo trộn.
Kẻ thù chưa bỏ cuộc, khó khăn chưa dừng lại. Càng trong bão tố, cô càng phải tỉnh táo hơn bao giờ hết.
Năm giờ sáng.
Tiếng gà rừng eo óc gáy đầu thôn xua tan màn sương mù dày đặc đang phủ trắng xóa mặt sông Đáy. Gió cuối xuân vẫn mang theo cái rét ngọt căm căm, luồn qua từng kẽ lá buốt thấu xương tủy.
Khi bà con xã viên Đội 3 lục tục kéo ra ngõ, họ sững sờ khi nhìn thấy bóng một người phụ nữ mảnh khảnh, đầu đội nón mê, chân quấn xà cạp cẩn thận, tay cầm chiếc sào tre dài đang rảo bước thoăn thoắt ra phía bãi Soi.
Đó là An!

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…