Xuyên không thập niên 70

Chương 36: Mắt xích ngầm

An nén một hơi thở buốt nghẹn nơi cuống họng, đứng bất động như tượng đồng giữa bậc thềm gạch.

Gió sông Đáy buổi sớm vẫn thốc qua rặng dâm bụt từng cơn ràn rạt, mang theo hơi sương lạnh ngắt và mùi ngai ngái của đất bãi sau cơn mưa dầm. Nhưng hàn khí từ ngọn gió ngoài đồng chẳng thấm tháp gì so với cái lạnh đang chạy dọc sống lưng cô. Ánh mắt An ghim chặt vào từng vết bùn non còn ươn ướt trên nền gạch đỏ. Dấu đế dép rọ cao su đã mòn vẹt mép ngoài bên gót trái, kích cỡ chừng số bốn mốt, bản ngón bè rộng đặc trưng của người vùng chiêm trũng quanh năm lội bùn.

Kẻ đột nhập không chỉ thông thuộc địa hình nhà này, mà còn canh chuẩn xác từng tích tắc. Hắn đợi đúng lúc chiếc xe gát nổ máy ầm ĩ nơi đầu dốc đê, át đi mọi tiếng động nhỏ nhất, đợi lúc Bình vừa bước chân lên đường và An còn đang mải dõi mắt trông theo ở gốc đa cổ thụ để lẻn qua hàng rào chuối phía sau.

Nhưng điều khiến tim An giật thót từng hồi không phải là sự táo tợn của tên trộm, mà là hướng đi của những vết bùn.

Chúng không hề rẽ vào chái bếp nơi đặt hũ gạo, không ngó ngàng tới chum tương hay chuồng gà – những thứ tài sản quý giá nhất mà phường trộm vặt thời buổi đói kém hay rình rập. Dấu chân dẫn thẳng một mạch qua bậu cửa gỗ lim, hướng thẳng vào gian giữa, và dừng lại ngay trước bệ thờ gia tiên họ Trần.

Nơi đó, sâu bên trong hốc gạch non phía sau bài vị cụ tổ ba đời, là bản cam ước mang mười bốn dấu điểm chỉ đỏ chót bằng mực tàu pha máu của các hộ xã viên bãi Soi. Đó là sinh mạng chính trị của Chủ nhiệm Khoát, là chiếc vé đưa Trần Bình ra tòa án binh nếu bị quy kết tội danh “phá hoại kinh tế tập thể”, và cũng là mầm hy vọng ấm no của hàng chục con người đang oằn mình chống chọi với cái đói giáp hạt.

An siết chặt hai bàn tay, móng tay găm sâu vào lòng bàn tay đau nhói để giữ cho đầu óc hoàn toàn tỉnh táo. Cô nhẹ nhàng rút chiếc then cài bằng gỗ nghiến dựng ở góc cửa, cẩn trọng bước từng bước không phát ra tiếng động tiến vào trong nhà.

Mùi trầm hương cháy dở từ đêm qua vẫn vương vít trong không gian u tịch. Trên bệ thờ bằng gỗ mít sơn son thếp vàng đã phai màu, chiếc lư hương bằng đồng mắt cua vẫn nằm yên vị. Tuy nhiên, bức rèm nhiễu đỏ che chắn phía trước đã bị vén xếch sang một bên, mép vải còn vương một vệt bùn khô mỏng dính.

Bằng con mắt quan sát tỉ mỉ của một nhà khoa học thực nghiệm, An nhận ra ngay lớp bụi mỏng phủ trên góc bệ thờ đã bị một bàn tay thô ráp quệt đi một mảng lớn. Viên gạch non cổ kính nơi góc khuất sau bài vị hơi lệch ra ngoài chừng nửa đốt ngón tay. Kẻ đó đã tìm thấy hốc ngầm, đã chạm tay vào viên gạch!

Thế nhưng, mép viên gạch vẫn còn khít, lớp vôi vữa khô gắn tạm chưa bị cạy tung hoàn toàn. Có lẽ tiếng bước chân vội vã của An trở về từ đầu ngõ, hoặc tiếng lục đục của u Mẫn cựa mình trong buồng trong đã khiến kẻ gian chột dạ, vội vã tẩu thoát theo đường cũ trước khi kịp lôi thứ bên trong ra ngoài.

An thở hắt ra một làn hơi run rẩy. Cô tiến sát lại bệ thờ, khẽ đưa tay ấn nhẹ viên gạch vào vị trí cũ, rồi xoay người rảo bước thật nhanh vào buồng trong.

Dưới ánh sáng lờ mờ hắt qua khe cửa sổ con tò vò, u Mẫn đang ngồi co ro trên mép giường tre, hai tay ôm khư khư chiếc áo bông trần đã sờn rách nơi cổ áo. Gương mặt già nua chằng chịt nếp nhăn của bà đượm vẻ hoảng hốt, đôi mắt kèm nhem nhìn chăm chú ra phía cửa.

“An đấy à con? Thằng Bình... xe chạy khuất bóng rồi hả con?” Giọng u Mẫn run rẩy, ngắt quãng.

An bước tới, ngồi xuống bên cạnh mẹ chồng, nắm lấy đôi bàn tay gầy guộc lạnh ngắt của bà. Cô hạ thấp giọng xuống mức tối thiểu, chỉ đủ để hai người nghe thấy: “U ơi, nhà mình vừa có trộm vào. Nhưng nó không lấy gà vịt hay gạo thóc đâu u ạ.”

Người mẹ già giật bắn mình, hàm răng đen nhánh lập cập va vào nhau: “Nó... nó nhòm vào đâu hở con?”

“Nó mò thẳng lên bệ thờ gia tiên, chạm tới chỗ giấu bản cam ước bãi Soi rồi u ạ.”

Nghe đến đó, sắc mặt u Mẫn thoắt cái tái nhợt như tàu lá chuối héo. Bà là vợ liệt sĩ chống Pháp, là mẹ của thương binh, cả một đời nếm trải biết bao biến cố phong ba nơi làng quê bão táp. Bà hiểu quá rõ một khi tờ giấy cam kết chia ruộng khoán ấy rơi vào tay kẻ xấu, cái giá phải trả sẽ là nhà tan cửa nát. Nhưng người đàn bà thôn quê từng tiễn chồng rồi lại tiễn con ra trận ấy không hề ngã quỵ. Sau vài giây bàng hoàng tột độ, đôi mắt mờ đục của bà bỗng lóe lên một tia sắc sảo, kiên định lạ thường.

U Mẫn nắm chặt lấy cổ tay An, giọng đanh lại: “Thằng Tiết! Chắc chắn là vây cánh của thằng Đặng Tiết hoặc con mụ Tươi xúi bẩy! Thằng Tiết tuy bị công an huyện tống giam, nhưng họ hàng hang hốc nhà nó ở làng này còn đông lắm. Chúng nó biết thằng Bình đi xa, muốn đào tận gốc trốc tận rễ nhà này để trả thù!”

“U nói đúng ạ.” An gật đầu, ánh mắt lạnh như băng. “Chúng nghĩ anh Bình vừa bước chân lên xe là nhà này mất đi chỗ dựa, chỉ còn một bà già với một đứa con gái trói gà không chặt. Chúng muốn lấy bản cam ước để dâng lên tỉnh nhằm lật ngược bản án vu khống của thằng Tiết, đồng thời kéo cả Chủ nhiệm Khoát lẫn Đội 3 xuống bùn.”

“Bây giờ tính sao hở con? Đem đốt đi ư? Đốt đi thì công sức của cả chục hộ dân, mồ hôi nước mắt của thằng Bình bao tháng ngày qua coi như đổ xuống sông xuống biển...” U Mẫn nghẹn ngào, bàn tay run bần bật.

“Không được đốt, u ạ!” An dứt khoát lắc đầu, ánh mắt ngời lên tia sáng quyết đoán. “Đó là danh dự, là sinh mạng của mười bốn gia đình tin tưởng vợ chồng con. Chúng muốn tìm bằng chứng, con sẽ cho chúng một cái bẫy. Con muốn chúng tự chui đầu vào rọ, để nhổ sạch cái gai ngầm này một lần cho xong, cho anh Bình yên tâm nơi chiến trường Tây Nguyên!”

Nhìn sự điềm tĩnh và bản lĩnh phi thường của cô con dâu trẻ, u Mẫn như được tiếp thêm sức mạnh. Bà hít một hơi thật sâu, gật đầu thật mạnh: “Được! Con bảo mẹ phải làm gì, mẹ làm theo răm rắp!”

An đỡ u Mẫn ngồi vững, rồi nhanh chóng vạch ra kế hoạch tác chiến ngay trong gian buồng chật hẹp.

Năm phút sau, An quay trở lại gian giữa. Đứng trước bàn thờ tổ tiên, cô chắp tay vái ba vái thành kính, đoạn cẩn thận nhấc viên gạch non lỏng lẻo ra ngoài. Thò tay sâu vào bên trong hốc tường ẩm mốc, ngón tay cô chạm vào gói vải dù hoa màu ngụy trang quen thuộc. Bản cam ước mười bốn chữ ký vẫn còn nguyên vẹn, khô ráo.

An ôm bọc tài liệu vào buồng trong. Cô lấy ra một đoạn ống nứa già đã được gác bếp hun khói đen bóng, thành nứa dày và đanh như thép. Bản cam ước được cuộn chặt lại, bọc thêm hai lớp giấy dầu chống ẩm rồi mới nhét gọn vào lòng ống nứa. An nhóm chiếc đèn dầu Hoa Kỳ, dùng một cục sáp ong ruồi nguyên chất hơ trên ngọn lửa liu riu cho sáp chảy ra, trét kín mít quanh miệng nút bấc bằng gỗ sung. Lớp sáp ong nguội đi, đông cứng lại thành một khối niêm phong tuyệt đối kín khí, dù có ngâm dưới đáy sông Đáy cả tháng trời cũng không thể ngấm một giọt nước.

Sau đó, An cầm theo chiếc xẻng cùn nhỏ, lẻn ra khu vườn sau nhà. Dưới gốc cây ổi đào xù xì hàng chục năm tuổi ở góc rào rậm rạp, nơi đất thịt pha cát xốp mịn và phủ kín lá khô rụng, An đào một hố sâu chừng hai gang tay, đặt ống nứa xuống đáy, lấp đất nén chặt, rồi phủ lên trên một lớp lá ổi mục và tro trấu hoai mục. Dưới cái nhìn của người ngoài, đây chỉ là một góc bón phân hữu cơ thông thường cho cây cối, không hề để lại bất kỳ một dấu vết đào xới mới mẻ nào.

Trở vào nhà, An lấy từ đáy hòm gỗ ra một cuốn sổ tay bìa bọc giấy xi măng đã ố vàng. Đây là cuốn sổ cô dùng ghi chép lại các công thức ủ chua cỏ voi, tỷ lệ phối trộn cám ngô, bã sắn lát với tro trấu khử nấm mốc để làm thức ăn dự trữ cho đàn trâu bò trong đợt rét hại vừa qua. Chữ viết trong sổ nắn nót, dày đặc các con số thống kê công điểm và liều lượng thảo dược.

An cuộn cuốn sổ lại bằng đúng kích thước của bản cam ước cũ, cũng bọc ngoài bằng một mảnh vải dù hoa tương tự, rồi thản nhiên nhét sâu vào hốc gạch sau bệ thờ. Cô cẩn thận đẩy viên gạch non về vị trí cũ, chỉ để hở một kẽ nứt rất nhỏ đủ để kẻ có dã tâm dễ dàng cạy ra.

Xong xuôi mọi việc, An khoác chiếc áo tơi lá, thong thả cắp nón bước sang nhà chị Đượm ở xóm Đoài.

Mặt trời lúc này đã vượt qua ngọn tre, tỏa ra ánh sáng nhợt nhạt xua tan bớt màn sương buốt giá. Trong căn bếp bốc khói nghi ngút mùi cám lợn của nhà chị Đượm, An ngồi bên bậc cửa, ghé tai người bạn thân thì thầm to nhỏ suốt nửa tuần trà.

Nghe xong, chị Đượm trừng tròn đôi mắt ốc nhồi, bàn tay đang cầm đôi đũa cả khuấy nồi cám bỗng khựng lại, đập mạnh một nhát xuống mặt chõng tre đánh “chát”:

“Tổ sư bố đứa nào to gan thế! Dám rình mò bệ thờ nhà anh Bình lúc anh ấy vừa đi vắng à? An ơi là An, mày cứ để mặc tao! Tối nay tao với thằng Thao, thằng Khoa đội ba sẽ phục sẵn trong buồng chuối. Tao mà không tóm sống được cái bản mặt quân khốn nạn ấy, tao không thèm làm tổ trưởng phụ nữ đội ba nữa!”

“Chị Đượm, việc này phải kín như bưng.” An nắm lấy tay Đượm, dặn dò cặn kẽ từng lời. “Không đánh trống khua chiêng, không báo động làm kinh động cả xóm. Cứ để nó mò vào tận nơi, thò tay móc bọc tài liệu ra ngoài thì mới bắt tận tay, day tận trán. Bắt được người rồi, ta báo thẳng cho chú Luận công an xã sang lập biên bản. Tuyệt đối không để kẻ đứng sau kịp trở tay phi tang manh mối!”

“Mày yên tâm, tao hiểu rồi! Bắt trộm phải bắt tận tay, bắt gian phải bắt tại giường. Mày cứ về lo việc ngoài bãi, chuyện tối nay cứ để chị mày liệu!” Chị Đượm nghiến răng trét trét, ánh mắt bừng bừng lửa giận nhưng đầy vẻ tự tin.

*

Đêm đó, cả xã An Hòa chìm sâu vào bóng tối đen đặc như mực.

Mùa nồm ẩm khiến bầu trời phủ kín mây mù xám xịt, không một ánh sao, không một mảnh trăng non. Cả làng xóm im lìm dưới tiếng ếch nhái râm ran ngoài đồng chiêm trũng và tiếng gió rít qua rặng tre kẽo kẹt.

Khoảng mười một giờ đêm, ngọn đèn hoa kỳ trong nhà An tắt lịm. U Mẫn nằm trong buồng giả vờ thở đều đều ngáy nhẹ, còn An ngồi nép sau cánh liếp ngăn giữa gian buồng và nhà ngoài, đôi mắt mở to thao thức trong bóng tối mịt mùng.

Ở chái bếp phía sau, chị Đượm cùng hai thanh niên dân quân khỏe mạnh của Đội 3 là Khoa và Thao đã phục sẵn từ lúc chập tối. Họ nín thở, ẩn mình sau đống rơm khô và những bó mây bánh tẻ còn thơm mùi khói sấy.

Đêm càng về khuya, không khí càng buốt lạnh.

Một giờ sáng. Tiếng sủa ngắt quãng của con chó vện nhà ông phó chủ nhiệm đầu ngõ bỗng im bặt.

Ngay sau đó, phía bờ rào chuối sau vườn phát ra một tiếng “sột soạt” cực khẽ. Một bóng đen lù lù tách ra khỏi màn đêm nhờ nhờ, khom lưng luồn qua khoảng rào tre bị bẻ gãy từ sớm, rón rén bước từng bước trên lớp bùn nhão. Hắn dừng lại quan sát hồi lâu, thấy căn nhà ba gian vẫn tối om om tĩnh mịch thì mới thở phào một cái, rón rén tiến lại gần cửa ngách gian bếp.

Bằng một lưỡi dao mỏng sắc lẹm, bóng đen khẽ luồn qua khe cửa, đẩy nhẹ thanh then cài bằng gỗ sang một bên. Cánh cửa liếp khẽ rên lên một tiếng “két” khô khốc trong đêm tĩnh mịch rồi từ từ mở rộng.

Bóng đen lách người vào trong, chân đi đôi dép rọ cao su đã mòn vẹt gót. Hắn di chuyển thành thục như chuột bọ trong hang, nhẹ nhàng lướt qua chái bếp, bước lên thềm gian giữa rồi tiến thẳng về phía bệ thờ gia tiên.

Trong bóng tối nhờ nhờ, bàn tay gầy guộc của kẻ đột nhập run rẩy đưa lên, vén bức rèm nhiễu đỏ. Hắn thò tay vào góc khuất sau bài vị, ngón tay lần mò chạm đúng vào viên gạch non đang lung lay.

Một tiếng thở phào hể hả khẽ bật ra nơi kẽ răng hắn. Kẻ gian dùng hai ngón tay bấu chặt vào mép gạch, từ từ rút viên gạch non ra ngoài. Hắn thọc sâu cả bàn tay vào trong hốc tối, và đầu ngón tay lập tức chạm vào gói vải dù hoa ram ráp!

Đúng khoảnh khắc ngón tay hắn vừa lôi được bọc vải dù ra khỏi hốc tường, một giọng nói sang sảng, sắc lạnh như nhát dao xé toạc màn đêm:

“Muộn thế này rồi, chú sang nhà tìm sổ sách gì đấy hở chú Thược?”

Bóng đen giật bắn người như bị sét đánh ngang tai, toàn thân cứng đờ, gói vải dù suýt chút nữa tuột khỏi tay. Hắn hoảng loạn xoay phắt người lại toan lao đầu ra phía cửa liếp gian bếp.

Nhưng đã quá muộn!

“Bật đèn lên!” Tiếng chị Đượm rống lên như sấm dậy đầu đình.

“Xoạch!” Chiếc đèn bão cỡ lớn treo trên xà nhà lập tức bừng sáng, xua tan toàn bộ bóng tối, rọi thẳng vào gương mặt kẻ trộm. Cùng lúc đó, Khoa và Thao từ chái bếp lao bổ ra, chiếc đòn gánh bằng tre đực trong tay Thao giáng mạnh một đòn trúng khoeo chân kẻ gian, khiến hắn ngã dúi dụi xuống nền gạch, kêu “ối” một tiếng thảm thiết.

Chị Đượm nhanh như cắt nhảy chồm lên, dùng cả thân hình đẫy đà bảy mươi cân đè nghiến lấy lưng hắn, hai tay khóa chặt hai cánh tay gầy nhẳng của tên trộm bẻ quặt ra sau lưng: “Mày chạy đi đâu hở con chuột cống này! Phen này bà cho mày đi tù mọt gông!”

Ánh đèn bão rọi sáng một khuôn mặt nhọn hoắt, lấm lem bùn đất và tái ngắt không còn một giọt máu. Đôi mắt lác đảo điên cuống cuồng nhìn quanh – đích thị là Thược “lác”, em họ con chú con bác ruột của cựu đội phó Đặng Tiết!

An từ tốn bước ra từ sau cánh liếp buồng trong, nét mặt bình thản lạ thường. Cô cúi xuống nhặt gói vải dù hoa rơi lăn lóc dưới đất lên, phủi nhẹ lớp bụi vôi bám trên mặt vải.

Thược “lác” cắn chặt môi, run lẩy bẩy dưới sức nặng của chị Đượm, nhưng trong mắt vẫn lóe lên vẻ hung hãn của kẻ cùng đường: “Thả... thả tao ra! Chúng mày lấy quyền gì trói người? Tao... tao chỉ vào nhặt cành củi khô rơi ngoài ngõ!”

Đăng nhập để thả tim Đăng nhập để tương tác

Ủng hộ tác giả ai4
Mỗi lời động viên là động lực để tác giả tiếp tục sáng tác.

ai4

Tác giả của câu chuyện này · Hãy cùng ủng hộ những chương tiếp theo.

Đăng nhập để theo dõi

Bình luận chương 0

Đăng nhập để tham gia bình luận.

Đang tải bình luận…