Xuyên không thập niên 70
Chương 35: Lời hẹn Tây Nguyên
Hoàng hôn trên triền đê sông Đáy như một dải lụa nhuốm màu máu đỏ quạch, chầm chậm buông xuống những rặng xoan khẳng khiu đầu làng An Hòa. Gió bãi bồi thổi thốc lên mang theo hơi nước ngai ngái cùng mùi phù sa nồng đậm, táp rát vào khuôn mặt phong trần của Trần Bình.
Đôi bàn tay thô ráp vốn quen cầm súng, quen vít cán cày của anh lúc này run rẩy đến không kìm lại được. Mảnh giấy công điện đánh máy trên nền giấy rơm vàng ố, lấm tấm những vết mực tím nhòe nhoẹt ép chặt giữa hai ngón tay cái và ngón trỏ chai sần. Chữ “HỎA TỐC” đỏ lựng như một đốm than hồng chực chờ thiêu đốt tâm can người lính phục viên.
Cao điểm Đắk Tô – Tân Cảnh. Nguyễn Hoài Nam. Mùa mưa Tây Nguyên.
Bảy giờ sáng mai tại Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh.
Từng con chữ ngắn gọn, lạnh lùng và dứt khoát như một mệnh lệnh hành quân thời chiến rít qua màng nhĩ anh. Bình hít một hơi thật sâu, lồng ngực vạm vỡ nghẹn ứ lại trong một cơn chấn động dữ dội. Bốn năm ròng rã, kể từ cái ngày đẫm máu tháng 3 năm 1975 ấy, khi đơn vị trinh sát của Nam bị pháo kích chia cắt tại sườn đồi le, chưa bao giờ Bình nguôi ngoai món nợ máu xương với người đồng đội, người anh ruột của Hoài An. Vết sẹo dài ngoằn ngoèo nơi bắp chân trái – di chứng của mảnh đạn cối năm nào – bỗng chốc buốt nhói tận tủy xương như nhắc nhở một lời thề chưa trọn.
Bình cúi xuống, nhặt sấp vải hoa cúc màu xanh nhạt vừa rơi trên đám cỏ mật. Anh tỉ mỉ phủi từng cọng rác khô bám vào thớ vải mậu dịch phẳng phiu, nâng niu như sợ hơi thở dồn dập của mình làm hoen ố món quà chắt chiu từ những giọt mồ hôi và tiền trợ cấp thương tật. Đưa sấp vải lại vào tay vợ, Bình nhìn sâu vào đôi mắt long lanh ngấn lệ của An, một nỗi giằng xé tột cùng cuộn trào nơi đáy mắt.
“Đồng chí Luận,” Bình quay sang người Xã đội phó trẻ tuổi đang đứng thở dốc bên chiếc xe đạp xộc xệch, giọng anh khàn đặc nhưng cố giữ sự điềm tĩnh nhà binh, “công điện này Đảng ủy đã thông qua chưa?”
“Báo cáo anh Bình, đồng chí Bí thư xã và anh Khoát Chủ nhiệm đã ký xác nhận trực tiếp vào sổ giao nhận của liên lạc Tỉnh đội rồi!” Luận gạt mồ hôi trán, giọng vẫn run lên vì xúc động. “Chủ nhiệm Khoát dặn em chuyển lời ngay: Việc quy tập hài cốt đồng chí Nam là nghĩa cử thiêng liêng đền ơn đáp nghĩa, việc nước việc nhà đều phải chu toàn. Xã tạo mọi điều kiện để anh lên đường. Giấy giới thiệu và công lệnh của Ủy ban xã đã viết xong, mai tinh sương anh cứ ghé trụ sở lấy rồi thẳng tiến lên tỉnh!”
Bình gật đầu, siết chặt bàn tay Luận: “Cảm ơn cậu. Cậu về báo cáo với xã, tôi đã rõ lệnh.”
Bóng chiếc xe đạp Thống Nhất của Luận xa dần trên con đường đất đỏ rực màu ráng chiều. Không gian bờ đê lại chìm vào sự tĩnh lặng tịch mịch, chỉ còn tiếng côn trùng rả rích trong bụi cỏ ven đê và tiếng thở khẽ, dồn dập của người phụ nữ bên cạnh anh.
Bình quay người lại, nhìn thẳng vào An. Ánh tà dương rọi nghiêng khuôn mặt thanh tú rám nắng của cô, làm nổi bật đôi gò má ướt đẫm nước mắt. An đứng đó, chiếc kẹp tóc bằng vỏ đạn pháo sáng loáng trên mái tóc đen dày, đôi vai gầy khẽ run rẩy. Trái tim Bình quặn thắt. Anh muốn ôm chặt lấy cô, muốn che chở cho cô khỏi tất cả những giông bão cuộc đời, nhưng đôi chân anh như bị đóng đinh xuống mặt đất bãi bồi.
Anh đi, là trọn đạo với người nằm xuống, là đưa được người anh trai duy nhất của An trở về với đất mẹ trước khi những cơn lũ quét rừng già Tây Nguyên cuốn phăng đi dấu tích cuối cùng. Nhưng còn An? Còn Đội 3? Còn cơ ngơi bãi Soi đang rực lửa đấu tranh giữa lằn ranh sống còn?
Đợt nồm ẩm vừa dứt, bãi Soi vừa hoàn thành xong kỳ tích một nghìn chiếc làn mây xuất khẩu, chuẩn bị bước vào giai đoạn bón thúc quyết định cho ngô và đậu tương. Nguy hiểm hơn cả, dưới bệ thờ gia tiên nhà anh, viên gạch non góc trái vẫn đang đè nặng lên bản cam ước mười bốn dấu điểm chỉ đỏ chót – bằng chứng của sự “xé rào” khoán chui chưa từng có tiền lệ. Phe cánh của Đặng Tiết, dẫu Tiết đã bị tống lên huyện thẩm vấn, nhưng tàn dư nghi kỵ và những cặp mắt dòm ngó đố kỵ trong làng vẫn như loài rắn độc ẩn mình trong bụi rậm, chực chờ sơ hở là phóng nọc.
Nếu anh rời đi lúc này, ai sẽ là người đứng mũi chịu sào? Ai sẽ che chắn cho người vợ trẻ và mẹ già trước những đòn thù giấu mặt?
“An...” Bình cất tiếng, thanh âm trầm đục nghẹn lại nơi cổ họng. “Sáng mai đi thì gấp quá. Bãi Soi đang độ làm đất phá váng... Mười bốn hộ xã viên vừa ký cam ước, lòng người chưa hẳn đã nguội bớt âu lo. Hay là... để anh đạp xe lên Tỉnh đội ngay trong tối nay, xin lùi lại đợt công tác sau? Đợi xong vụ chiêm này, đất bãi Soi thu hoạch đâu vào đấy rồi anh xin đi...”
“Anh nói gì kỳ lạ thế!”
An đột ngột ngắt lời anh. Cô quệt vội giọt nước mắt trên má, ánh mắt thông minh thường ngày bỗng bừng lên một vẻ kiên định, cương quyết đến mức khiến Bình phải sững sờ. Cô bước tới một bước, bàn tay nhỏ nhắn nhưng chai sần vì lao động nắm chặt lấy cánh tay vạm vỡ của anh.
“Anh Bình, anh là người lính, anh hiểu hơn ai hết mùa mưa Tây Nguyên khắc nghiệt thế nào! Đội K53 đã đổ bao xương máu mới dò ra được tọa độ của anh Nam giữa bạt ngàn rừng le Đắk Tô. Công điện đã ghi rõ: đất có nguy cơ sạt lở nghiêm trọng! Lũ rừng ập xuống thì ngọn đồi cũng bị san phẳng, anh Nam sẽ vĩnh viễn nằm lại trong lạnh lẽo, biết bao giờ mới tìm lại được nữa?”
“Nhưng còn em? Còn bản cam ước dưới bệ thờ? Anh đi chuyến này, nhẹ thì nửa tháng, lâu thì cả tháng trời đường rừng cách trở. Để em lại một mình giữa bao nhiêu rình rập, anh làm sao yên lòng nhấc chân bước nổi!” Bình siết chặt nắm đấm, khớp xương kêu răng rắc. Sự bất lực và dằn vặt hiện rõ trên từng đường gân nổi cộm trên trán.
An nhìn thẳng vào mắt anh, không hề né tránh. Một nụ cười thoáng nở trên đôi môi nứt nẻ, vừa dịu dàng vừa tràn đầy bản lĩnh của một người phụ nữ đã tôi luyện qua gian khó và bom đạn chiến tranh:
“Anh coi thường em gái của anh Nam thế sao? Em lớn lên trong những năm tháng bom đạn sơ tán, từng cùng bà con bám làng giữ đất, có sóng gió nào ở cái bãi Soi này mà em không dám gánh? Huống chi, ở hậu phương em đâu có đơn độc!”
An kéo tay anh lại gần, giọng hạ thấp nhưng đanh thép từng chữ:
“Chúng ta có u Mẫn cả đời từng trải, có đồng chí Bí thư và anh Khoát ngầm ủng hộ, có anh Luận Công an xã cương trực, và quan trọng nhất, mười bốn hộ xã viên Đội 3 đã ký tên điểm chỉ sống chết có nhau. Bãi Soi là bát cơm, là mạng sống của họ, không ai có thể lay chuyển được khối sắt đá ấy đâu! Việc của anh là vì nghĩa vụ với Tổ quốc, vì lời thề với đồng đội, và vì... đưa anh trai em về nhà. Anh phải đi, và phải đi ngay sáng mai!”
Bình đứng sững giữa gió sông lồng lộng. Nhìn gương mặt kiên trinh của vợ, lồng ngực anh dâng lên một niềm cảm phục và xúc động vô bờ bến. Người con gái này, mảnh mai là thế, dịu dàng là thế, nhưng bên trong lại ẩn chứa một nghị lực tựa như loài tre đằng ngà trước bão dông. Sự thấu hiểu và hy sinh của An như một dòng nước mát gột rửa mọi đắn đo, tiếp thêm cho anh thứ dũng khí thiêng liêng nhất của một người đàn ông trụ cột.
“Được!” Bình hít sâu một hơi, bàn tay to lớn bao bọc lấy bàn tay An, siết chặt như một lời giao ước. “Anh đi! Anh hứa với em, dù có phải lội qua trăm con suối, đào tung từng thước đất rừng Đắk Tô, anh cũng sẽ cõng anh Nam về bằng xương bằng thịt trước mặt u và thầy!”
Hai người dắt nhau đi dọc triền đê trở về làng khi bóng tối đã bắt đầu đặc quánh. Ánh đèn dầu từ những ngôi nhà mái rạ le lói tỏa ra màn sương chiều. Bước chân Bình khập khiễng nhịp nhàng bên bước chân thoăn thoắt của An, bóng hai người đổ dài trên mặt cỏ, hòa quyện làm một.
Tin tức chấn động nhanh chóng lan về xóm nhỏ. Khi Bình và An bước chân vào con ngõ gạch nhà cụ giáo Khiêm, khói thuốc lào Tiên Lãng đã bảng lảng khắp gian nhà ngói ba gian cổ kính.
Cụ giáo Khiêm ngồi bất động bên chiếc bàn gỗ lim mộc mạc. Trên bàn, ngọn đèn Hoa Kỳ bằng đồng thau được vặn bấc to hết cỡ, chiếu rọi khuôn mặt già nua chằng chịt những nếp nhăn thời gian. Đôi mắt cụ giáo đỏ hoe, chòm râu bạc khẽ rung bần bật. Nghe tiếng bước chân con rể và con gái ngoài hiên, cụ từ từ ngẩng đầu lên.
“Thầy...” Bình bước vào, cởi chiếc mũ cối kẹp dưới nách, cúi đầu chào.
Cụ Khiêm không nói, chỉ giơ bàn tay gầy guộc run rẩy chỉ vào chiếc ghế đối diện. Bình lặng lẽ ngồi xuống. An vội vàng bước lại bên cạnh cha, khẽ đặt tay lên vai cụ. Người thầy giáo già cả đời thanh bạch, từng trải qua bao biến cố thời cuộc, lúc này như một cây cổ thụ vừa bị một luồng sét đánh ngang thân, đau đớn đến tận cùng nhưng vẫn cố gượng đứng vững.
“Bình này...” Giọng cụ Khiêm khàn đặc, đứt quãng như có sạn cào trong cổ họng. “Thật... thật sự tìm thấy rồi sao con?”
“Dạ thưa thầy, công điện của Bộ Tư lệnh Quân khu 5 gửi về Tỉnh đội trưa nay. Đội K53 đã tìm thấy mộ anh Nam ở sườn phía Tây cao điểm Đắk Tô – Tân Cảnh. Họ đối chiếu chính xác tấm thẻ bài bằng nhôm và sơ đồ chôn cất của đại đội trinh sát năm bảy lăm. Sáng mai bảy giờ, con phải có mặt ở Tỉnh đội để cùng đoàn công tác đặc biệt xuất phát.”
Cụ Khiêm nhắm nghiền hai mắt lại. Hai giọt nước mắt đục ngầu chậm chạp lăn qua rãnh nhăn sâu hoắm trên gò má, rơi xuống mặt bàn gỗ đánh “tách” một tiếng. Bốn năm ròng rã, cụ giấu nỗi đau mất con trai trưởng sau những trang sách chữ Nho, sau những buổi dạy bình dân học vụ, chưa từng than vãn nửa lời trước mặt dân làng. Đêm nay, giọt nước mắt ấy mới chịu vỡ òa.
Cụ đứng dậy, bước chầm chậm về phía chiếc tủ chè khảm ốc xà cừ cũ kỹ kê sát vách gian trong. Bàn tay cụ run rẩy mở chiếc khóa đồng gỉ sét, lục lọi hồi lâu dưới đáy chiếc hòm gỗ đựng tài liệu từ thời tiền khởi nghĩa. Khi quay trở lại bàn, trên tay cụ là một chiếc bi-đông quân dụng kiểu Mỹ màu xanh ô-liu đã bong tróc nham nhở, mép dưới loang lổ hai vết đạn sượt hõm sâu vào kim loại, cùng một mảnh giấy kẻ ô ly học trò gấp tư, ố vàng vì thời gian.
“Con cầm lấy cái này...” Cụ Khiêm đặt chiếc bi-đông và mảnh giấy vào tay Bình.
Bình cúi nhìn. Chiếc bi-đông này anh nhận ra ngay. Đó là chiến lợi phẩm anh Nam thu được sau trận đánh căn cứ Đắc Mót đầu năm 1974, trên thân bi-đông còn khắc vụng về ba chữ cái “H – N – A” bằng đầu mũi lê, viết tắt tên ba anh em Hoài Nam, Hoài An và người em út tên Ánh đã mất vì bệnh tật thời tản cư. Còn mảnh giấy ô ly kia, khi mở ra, là những nét vẽ bằng bút bi xanh nguệch ngoạc: sơ đồ cao điểm, những gốc cây le cụt ngọn, con suối cạn và một dấu chữ thập đỏ đánh dấu vị trí hầm chỉ huy trinh sát.
“Đây là kỷ vật duy nhất thằng liên lạc của đại đội trinh sát mang về trao lại cho thầy khi nó được phục viên cuối năm bảy lăm,” Cụ Khiêm nghẹn ngào, bàn tay khô ráp nắm chặt lấy mu bàn tay Bình. “Mấy năm nay, đêm nào thầy cũng chong đèn nhìn cái sơ đồ này mà ruột gan như có muối xát. Thầy già rồi, chân yếu gối mỏi, không thể trèo đèo lội suối vào tận rừng sâu đón con về được nữa... Bình ơi, thầy gửi trọn linh hồn thằng Nam cho con!”
“Thầy yên tâm!” Lồng ngực Bình nghẹn thắt, anh đứng nghiêm người theo tác phong quân đội, hai mắt rực lửa quyết tâm. “Con lấy danh dự của người lính và tư cách người làm chồng, làm em rể trong nhà xin thề trước thầy: dù có phải trèo đèo lội suối, có gian khổ đến đâu, con cũng sẽ đưa anh Nam về tận ngưỡng cửa nhà này!”
Cụ Khiêm gật đầu thật mạnh, vỗ vỗ lên vai con rể, ánh mắt gửi gắm một niềm tin cậy tuyệt đối không gì lay chuyển nổi.

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…