Xuyên không thập niên 70

Chương 34: Chuyến hàng vượt biển

Tiếng gõ “cốc” khô khốc của ngón tay ông Bùi Khắc Kỷ như một nhát búa giáng thẳng vào sự tĩnh lặng nghẹt thở của gian tiền tế đình làng An Hòa.

Không khí đang từ hân hoan bỗng chốc đông cứng lại thành một khối băng lạnh toát. Ngoài bậc thềm, mấy chục xã viên Đội 3 đang nghển cổ nhìn vào đều sững sờ. Nụ cười vừa chớm nở trên gương mặt tròn trĩnh của chị Đượm tắt ngấm, hai bàn tay thô ráp của chị vội vã túm chặt lấy gấu áo bông chần đã sờn chỉ. Phía bên trong, Chủ nhiệm Bùi Đắc Khoát đứng chết trân, gương mặt vuông chữ điền bỗng chốc tái mét không còn một giọt máu. Chiếc bút máy Kim Tinh cài trên túi áo bốn túi của ông như muốn rơi ra theo nhịp thở dồn dập.

“Mốc... mốc đen ư?” Giọng ông Khoát run rẩy, chiếc khăn mùi xoa vo tròn trong tay ướt đẫm mồ hôi trán. “Không thể nào! Báo cáo đồng chí chuyên viên, mây này do chính tay anh em Đội 3 chọn lọc từng dọng, luộc kỹ bằng nước vôi ba sôi hai lạnh, lại qua lò sấy trấu đối lưu đêm ngày... Sao lại có mốc được?”

“Thực tế nằm ở đây, thưa đồng chí Chủ nhiệm!” Ông Kỷ ngắt lời, thanh âm sắc lạnh như lưỡi kéo cắt chỉ. Đôi mắt một mí sau tròng kính đồi mồi nheo lại, ngón tay trỏ vẫn dí chặt vào góc đáy chiếc làn thứ mười. “Quy chuẩn xuất khẩu sang các nước anh em Đông Âu không chấp nhận bất kỳ sự nhân nhượng nào. Chỉ một đốm nấm mốc nhỏ bằng hạt kê lọt vào khoang tàu viễn dương, sau bốn mươi ngày lênh đênh trên biển nhiệt đới ẩm, hơi muối và nồm ẩm sẽ nuôi dưỡng nó biến thành một ổ mốc xanh mốc đỏ, phá hủy toàn bộ lô hàng mười vạn rúp của tỉnh! Nếu đây là mốc ruột, tôi buộc phải lập biên bản đình chỉ toàn bộ một nghìn chiếc làn này ngay tại chỗ.”

Lời tuyên bố của vị chuyên viên ngoại thương như tiếng sét đánh ngang tai. Đình chỉ nghiệm thu đồng nghĩa với việc toàn bộ chỉ tiêu năm tấn phân lân Lâm Thao vụ chiêm, hàng trăm mét vải cốt tông và hạn ngạch dầu hỏa thắp sáng của xã An Hòa sẽ tan thành mây khói. Công sức ròng rã suốt hai mươi lăm ngày đêm, những ngón tay tứa máu vì vót nan, những đêm thức trắng canh lửa lò sấy của bà con Đội 3 chẳng lẽ lại đổ xuống sông Đáy?

Trần Bình lập tức tiến lên một bước. Thân hình vạm vỡ như cây lim rừng của anh chắn ngay trước mặt An, đôi mày rậm nhíu lại, ánh mắt cương trực ánh lên vẻ bình tĩnh của người lính từng trải qua trận mạc.

“Báo cáo đồng chí Kỷ, tôi là Đội trưởng, chịu trách nhiệm cao nhất về kỹ thuật và quy trình. Tôi xin cam đoan...”

Bình chưa kịp dứt lời thì một bàn tay thon nhỏ nhưng ấm áp và vô cùng vững chãi đã nhẹ nhàng đặt lên cánh tay anh. Hoài An bước lên song hàng cùng chồng. Trên gương mặt thanh tú đượm chút phong trần của cô không hề có lấy một tia hoảng hốt, chỉ có sự điềm tĩnh lạ lùng của một người nắm vững tường tận từng cấu trúc vi mô của vật liệu tự nhiên.

“Anh Bình, để em.” An khẽ nói, ánh mắt trao cho Bình một sự tin cậy tuyệt đối. Sau đó, cô hướng về phía ông Bùi Khắc Kỷ, khẽ cúi đầu chào theo đúng tác phong chuẩn mực.

“Thưa đồng chí Kỷ, đồng chí Trưởng ban Thanh tra và Ban Quản trị. Sự cẩn trọng của đồng chí chuyên viên là hoàn toàn chính xác và cần thiết cho uy tín ngoại thương của tỉnh nhà. Nhưng xin phép đồng chí cho tôi được kiểm tra trực tiếp vết ố này trước khi đưa ra kết luận cuối cùng.”

Ông Kỷ liếc nhìn người phụ nữ trẻ mặc chiếc áo bảo hộ màu cỏ úa vá vai, ánh mắt lộ vẻ nghi ngại nhưng vẫn lùi lại nửa bước, nhường khoảng trống bên chiếc bàn phủ khăn trắng:

“Được, cô cứ tự nhiên. Nhưng kính lúp và đèn pin ngoại thương không biết nói dối đâu.”

An mỉm cười nhẹ nhàng, không đáp lời bằng khẩu hiệu mà lập tức hành động. Cô quay sang chiếc hòm gỗ đựng dụng cụ kiểm tra chất lượng của Đội 3 đặt ở góc cột đình, lấy ra một chiếc lọ thủy tinh nhỏ nút bấc và một chiếc que tre vót nhọn, đầu quấn một nhúm bông y tế trắng tinh.

Mùi cồn sát trùng thoang thoảng bay ra khi An mở nút bấc. Đó là cồn y tế chín mươi độ mà cô đã nhờ trạm xá xã trích lại từ tủ thuốc cấp cứu.

Dưới ánh nhìn chăm chú đến nghẹt thở của hàng chục con người, An bật chiếc đèn pin của đội, ghé sát mắt vào vết ố xám mờ ở đáy chiếc làn. Với kiến thức của một kỹ sư công nghệ chế biến và sinh học nông nghiệp, chỉ cần nhìn thoáng qua rìa vết loang, cô đã biết chắc chắn đây không phải là khuẩn ty nấm mốc (hyphae). Nấm mốc phát triển từ trong ruột mây ẩm sẽ có cấu trúc sợi lan tỏa hình chân chim, thâm đen từ lớp xơ tế bào và làm mủn bề mặt cật mây. Còn vệt xám này lại có bề mặt trơn láng, hơi bóng nhẹ dưới ánh đèn.

An nhúng đầu tăm bông vào cồn, vẩy nhẹ cho bớt ướt, rồi cẩn trọng miết nhẹ lên vệt ố xám theo chiều dọc của thớ nan.

Động tác của cô vô cùng thuần thục, nhẹ nhàng như một người thợ phục chế đồ cổ. Đầu tăm bông trắng muốt vừa lướt qua ba đường, vệt ố màu xám lập tức tan biến, dính trọn vào lớp bông y tế, để lại một vệt bẩn màu nâu xám hơi ngả vàng. Trong khi đó, phần nan cật mây bên dưới hiện ra vàng óng, bóng loáng, nhẵn thui chũi như sừng non, hoàn toàn không có lấy một vết thâm kim hay tổn thương cấu trúc nào!

An đưa đầu que bông còn ẩm cồn lên trước mặt ông Kỷ, cất giọng rành rọt, khúc chiết:

“Báo cáo đồng chí chuyên viên, đây hoàn toàn không phải nấm mốc. Nếu là nấm mốc ăn từ ruột mây ra, cồn y tế không thể tẩy sạch bề mặt chỉ sau một đường lau, và sợi cellulose bên dưới chắc chắn đã bị hoại tử, chuyển màu xám đen xốp mục. Vệt này thực chất là một màng sáp mỏng ngưng tụ từ tinh dầu bồ kết và khói trấu trong quá trình sấy đối lưu.”

Ông Kỷ giật mình, vội vàng cầm lấy chiếc kính lúp soi sát vào vị trí vừa được lau sạch, rồi lại dí mũi vào đầu que bông ngửi thử. Một mùi hương thảo mộc the the, ngai ngái quen thuộc của quả bồ kết nướng bốc lên, hoàn toàn không có mùi ẩm mốc chua nồng của nấm hoại sinh.

An tiếp tục giải thích, giọng nói truyền cảm và chuẩn xác như một giảng viên trên bục giảng:

“Trong quy trình xử lý của Đội 3, chúng tôi dùng khói bồ kết để xông đuổi mọt và tạo màu cánh gián tự nhiên. Khi đưa vào lò sấy ngầm, nhiệt độ luôn duy trì từ năm mươi đến năm mươi lăm độ C. Chiếc làn này nằm ở góc dưới cùng sát cửa hút gió phụ, luồng khí đối lưu mang theo một giọt vi hơi nước chứa tinh dầu bồ kết chưa kịp thoát ra ngoài đã bốc hơi nhanh, để lại một lớp cặn màng sáp thực vật trên bề mặt nan. Nó chỉ bám ngoài da, hoàn toàn vô hại và có thể lau sạch bằng một mảnh vải khô.”

Nói đoạn, An lấy vạt chiếc khăn mùi xoa sạch miết mạnh lên chỗ đó. Bề mặt nan mây lập tức ánh lên sắc vàng ngà hoàn mỹ, trơn láng không tì vết.

“Để chứng minh độ khô tuyệt đối bên trong ruột nan,” An quay sang Bình, “anh Bình, mang cho em chiếc đồng hồ đo ẩm kim ghim!”

Bình thoăn thoắt mang lại chiếc máy đo độ ẩm điện trở cầm tay – một thiết bị quý giá mà Ty Ngoại thương trang bị cho đoàn kiểm định. Ông Kỷ không đợi An làm, đích thân giật lấy máy, cắm hai chiếc kim kim loại sắc nhọn xuyên sâu vào tim sợi nan đáy dày nhất – nơi dễ đọng ẩm nhất của chiếc làn.

Cây kim đồng hồ giật giật, rồi dừng lại ở một con số đỏ rực: 11%.

Bầu không khí trong gian đình như vỡ òa một nửa. Tiêu chuẩn khắt khe nhất của hàng xuất khẩu châu Âu là độ ẩm dưới 12%. Mức 11% giữa những ngày mưa phùn gió bấc nồm ẩm của tháng Hai đồng bằng Bắc Bộ là một kỳ tích kỹ thuật không tưởng!

Trưởng ban Thanh tra Vũ Đình Trọng đứng bên cạnh bật cười ha hả, vỗ mạnh vào vai Chủ nhiệm Khoát:

“Kỹ sư của đồng chí cừ thật đấy, anh Khoát à! Giải thích đâu ra đấy, chứng cứ khoa học sờ sờ thế này thì ai mà bắt bẻ được!”

Chủ nhiệm Khoát như người chết đuối vớ được cọc, mặt mũi rạng rỡ hẳn lên, liên tục gật đầu lia lịa: “Vâng, vâng! Báo cáo các đồng chí, cháu An là vốn quý của hợp tác xã chúng tôi đấy ạ!”

Tuy nhiên, ông Bùi Khắc Kỷ vẫn chưa chịu buông vũ khí. Nổi tiếng là người sắt đá, ông tháo kính, lau vào vạt áo rồi đeo lại, hắng giọng một tiếng thật to:

“Khoa học thực nghiệm của cô gái trẻ rất tốt! Vết ố coi như đã được chứng minh. Nhưng mỹ thuật và độ ẩm chỉ là một nửa tiêu chuẩn. Làn mây của chúng ta vượt biển sang Ba Lan, sang Đông Đức là để phụ nữ nước bạn đi chợ, xách đồ hộp, bơ sữa, khoai tây nặng hàng chục ký. Nan mây sấy khô quá rất dễ bị giòn gãy mối nối. Tôi cần kiểm tra độ chịu lực thực tế!”

Dứt lời, ông Kỷ quay ra phía cửa đình, hô lớn với hai người phụ xe tải đang đứng chờ bên ngoài:

“Các cậu, khiêng quả tạ mười lăm cân vào đây cho tôi!”

Mười lăm cân! Đám đông xã viên ngoài sân lại dấy lên một đợt xôn xao kinh hãi. Một chiếc làn mây nặng chưa đầy bốn trăm gam, nan vót mỏng như cánh chuồn, làm sao gánh nổi mười lăm cân sắt đặc? Thời bao cấp, ngay cả những chiếc sọt gánh lúa đan bằng tre cật già cũng chỉ dám tải ba bốn chục cân mỗi đôi. Đằng này lại là một chiếc làn xách tay thanh mảnh!

Hai người phụ xe lực lưỡng khệ nệ khiêng quả tạ sắt tròn xoe, đen sì đặt huỵch xuống nền gạch đình.

Ông Kỷ chỉ tay vào chiếc làn mẫu thứ mười:

“Bỏ tạ vào trong lòng làn, móc dây thừng treo lên xà đình trong vòng mười lăm phút! Nếu đứt một mối đan, sút một nút quai, hoặc độ biến dạng vĩnh viễn vượt quá năm phần trăm, lô hàng này sẽ bị hạ xuống loại B, mất toàn bộ chế độ thưởng phân bón!”

Chị Đượm ngoài cửa sổ nắm chặt tay An, lòng như lửa đốt. Nhưng An chỉ mỉm cười, khẽ gật đầu với Bình. Bình hiểu ý vợ, bước tới nhấc quả tạ sắt mười lăm cân đặt gọn gàng vào lòng chiếc làn mây. Đáy làn khẽ trĩu xuống dưới sức nặng khủng khiếp, các múi đan hoa văn mắt cáo siết chặt lại với nhau, phát ra những tiếng ken két khô giòn nhưng đanh chắc như gân bò.

Bình luồn sợi dây thừng qua hai chiếc quai mây kép bện tròn, rồi cùng người phụ xe quăng dây qua chiếc xà lim cổ kính của đình làng, kéo bổng chiếc làn lên cách mặt đất nửa mét rồi buộc chặt vào cột đình.

Mười lăm phút thử thách trôi qua chậm chạp như cả một thế kỷ.

Dưới sức nặng mười lăm cân, chiếc làn mây bị kéo giãn nhẹ, nhưng nhờ kỹ thuật luộc vôi kết hợp các nan cật bánh tẻ dẻo dai và cách giấu mối nan cài ba lớp của An, toàn bộ lực phân bổ đều khắp khung đáy hình elip. Không hề có một tiếng rạn vỡ. Hai chiếc quai mây bện lõi đôi vẫn căng tròn, ôm khít lấy vành miệng làn bằng một mối liên kết cơ học hoàn mỹ.

Đúng mười lăm phút sau, ông Kỷ nhìn đồng hồ Poljot, cất giọng:

“Hạ xuống!”

Bình cẩn thận hạ chiếc làn xuống bàn, nhấc quả tạ sắt ra ngoài.

Tất cả mọi người nín thở dồn mắt vào chiếc bàn gỗ. Một cảnh tượng kỳ diệu diễn ra trước mắt: ngay khi áp lực khủng khiếp được giải tỏa, các thớ mây như có linh tính và đàn tính vô song, từ từ co rút lại. Chiếc làn khẽ rung lên một nhịp cực khẽ, rồi bật nảy trở lại đúng hình dáng bầu dục ban đầu!

Ông Kỷ vội vàng cầm chiếc thước kẹp kim loại áp vào miệng làn và đáy làn đo đạc.

“Đường kính miệng: ba mươi lăm phân. Chiều cao: hai mươi tám phân. Sai số biến dạng... bằng không!”

Giọng vị chuyên viên già khẽ run lên. Ông buông chiếc thước kẹp, đưa hai bàn tay gầy gò sờ nắn thật kỹ từng nút thắt ở chân quai, săm soi từng mối đan dưới đáy. Mọi mối nối vẫn khít rịt, không một sợi xơ nào bị toác ra, không một mắt đan nào bị lệch hàng.

Ông Kỷ đứng thẳng người dậy. Đôi mắt một mí vốn sắc lạnh của ông bỗng ánh lên sự xúc động chân thành hiếm thấy. Ông đưa tay tháo găng len, chìa bàn tay chai sạn về phía vợ chồng Bình và An:

“Tuyệt vời! Thật sự là một kỳ tích của bàn tay người lao động nông thôn! Ba mươi năm làm công tác kiểm định ngoại thương, đi khắp các làng nghề mây tre từ Chương Mỹ, Phú Xuyên đến tận Nam Sách, đây là lần đầu tiên tôi được chứng kiến một lô hàng đan thủ công đạt đến độ chuẩn xác cơ học và mỹ thuật tinh xảo đến mức này!”

Ông Kỷ quay sang Trưởng ban Thanh tra Vũ Đình Trọng và Chủ nhiệm Khoát, dõng dạc tuyên bố:

“Tôi, Bùi Khắc Kỷ, đại diện Ty Ngoại thương tỉnh Hà Sơn Bình, chính thức ký biên bản nghiệm thu: Toàn bộ một nghìn chiếc làn mây của Đội sản xuất số 3, Hợp tác xã An Hòa đạt chất lượng Loại A tuyệt đối! Đủ điều kiện niêm phong bốc xếp thẳng lên toa xe lửa về cảng Hải Phòng, kịp chuyến tàu viễn dương xuất khẩu sang các nước bạn!”

“Hoan hô!”

“Thành công rồi! Được loại A rồi bà con ơi!”

Đăng nhập để thả tim Đăng nhập để tương tác

Ủng hộ tác giả ai4
Mỗi lời động viên là động lực để tác giả tiếp tục sáng tác.

ai4

Tác giả của câu chuyện này · Hãy cùng ủng hộ những chương tiếp theo.

Đăng nhập để theo dõi

Bình luận chương 0

Đăng nhập để tham gia bình luận.

Đang tải bình luận…