Xuyên không thập niên 70

Chương 44: Dấu son người lính

Gió đầu hồi thốc mạnh qua rặng tre ngà, quất từng luồng lạnh buốt vào tấm liếp nứa đã ngả màu xám xịt.

Mưa phùn rây những hạt bụi nước li ti lên mái rạ, đọng thành từng giọt ngưng tụ nơi rìa mái rồi nhỏ tí tách xuống chum sành đặt góc sân. Đất trời An Hòa sau những ngày mưa dầm dề như bị phủ một lớp sương mờ ẩm đục, hơi lạnh thấm qua từng kẽ áo bông, len lỏi vào da thịt buốt nhói. Nhưng đối với Hoài An, cái lạnh của thời tiết cắt da cắt thịt chẳng thấm tháp gì so với cảm giác nằng nặng đang đè chặt lên lồng ngực cô suốt từ lúc rời điếm canh đê bến đò sông Đáy trở về.

Cô đi bên cạnh Bình, khẽ nén từng bước chân để nhịp thở không quá dồn dập. Bụng dưới vẫn còn âm ỉ những cơn đau co thắt nhè nhẹ — lời cảnh báo của một cơ thể đang phải gánh chịu quá nhiều áp lực giữa lúc một sinh linh bé bỏng vừa mới tượng hình. Nhưng An không kêu một tiếng, ánh mắt cô dán chặt vào bóng lưng người đàn ông đang bước từng bước tập tễnh phía trước. Chân trái của Bình run rẩy rõ rệt, mỗi lần gót chân tì xuống nền đất trơn trượt sau đợt mưa rào là bả vai anh lại khẽ giật lên một cái. Vết đạn sượt ở chiến trường Tây Nam năm nào chắc chắn đã bị động mạnh sau cú ráng hết bình sinh dùng vai tì đòn bẩy cứu chiếc xe tải Zil chở năm mươi tấn quân lương rạng sáng nay.

Thế nhưng, điều khiến lòng An thắt lại không phải là vết thương tái phát nơi chân anh.

Đó là sự im lặng.

Bình là người lính ít nói, cái trầm mặc của anh vốn là nét quen thuộc mà cô yêu thương và nương tựa. Nhưng hôm nay, sự im lặng ấy đặc quánh như chì, trĩu nặng một dự cảm giông bão. Một tay anh buông thõng, bàn tay kia vô thức áp chặt lên ngực áo trái — nơi chiếc phong bì màu giấy xi măng niêm sáp đỏ thẫm mà Chỉ huy trưởng Huyện đội Bùi Trực vừa trao lúc nãy đang nằm im lìm dưới lớp vải bạt quân phục đã sờn rách.

“Về đến ngõ rồi anh.” An bước rảo lên nửa bước, khẽ đưa bàn tay mát lạnh chạm vào cổ tay áo anh.

Bình giật mình thoát khỏi dòng suy nghĩ mông lung. Anh quay sang nhìn vợ, ánh mắt trũng sâu vì ba đêm trắng thức trắng bên lò sấy trấu bỗng chốc mềm lại, tràn ngập nét xót xa. Anh vội vàng nắm lấy bàn tay An, dùng những ngón tay thô ráp, chai sạn vì cầm súng và cuốc cày bao bọc lấy bàn tay gầy gò của cô, ủ ấm trong lòng bàn tay mình.

“Em đi có thấy mỏi chân không? Về nhà rồi, u đang chờ. Để anh múc nước nóng cho em ngâm chân.” Giọng Bình trầm đục, cố nén vẻ run rẩy sau những giờ dầm mưa kéo xe.

“Em không sao. Vết thương của anh lại buốt rồi phải không? Bước vào thềm cẩn thận kẻo rêu trơn.”

Hai vợ chồng bước qua ngưỡng cửa gỗ lim bóng loáng vết thời gian. Gian nhà ba gian bốc lên mùi thơm ngai ngái, ấm sực của nồi nước lá xông. Trên chiếc bếp kiềng đượm than hồng góc nhà ngang, u Mẫn đang cặm cụi thổi lửa. Nghe tiếng chân con, bà cụ ngẩng đầu lên, khuôn mặt nhăn nheo hằn sâu vết chân chim giãn ra trong niềm nhẹ nhõm vô bờ.

“A Di Đà Phật, chúng mày về thật rồi! Cả làng người ta đồn nhau đoàn xe quân nhu vượt được dốc đê rồi, u mừng đến thắt cả ruột. Mau, hai đứa vào đây cởi chiếc áo mưa ướt sũng ra, u đun sẵn nồi nước lá bưởi, sả với hương nhu đây, xông cho nó giải cái hàn khí độc địa đi!”

Bà cụ vừa nói vừa tất tả bưng chiếc chậu đồng cũ ra giữa nhà, khói nghi ngút bốc lên mang theo hương thảo mộc đồng quê xua tan đi cái lạnh lẽo thấu xương. Nhìn mẹ già tóc bạc trắng cặm cụi chăm lo từng manh áo chiếc khăn, nhìn An mệt mỏi tựa lưng vào mép phản gỗ mà ánh mắt vẫn dõi theo mình đầy lo âu, sống mũi Bình cay xè. Anh đứng chết trân bên chiếc cột cái, một bàn tay ghì chặt mép túi ngực áo, nơi vết sáp niêm phong cứng ngắc đang cấn vào da thịt như một đốm than âm ỉ.

Sau khi ép An ngồi xông nước lá và uống cạn bát cháo hoa độn chút hành tía giải cảm, u Mẫn lại tất tả xách làn đi sang nhà chị Đượm để hỏi thăm tình hình bên ấy. Căn nhà tranh vách đất chỉ còn lại hai vợ chồng cùng tiếng tí tách của tàn lửa trong góc bếp.

An thay một chiếc áo bà ba màu nâu sồng khô ráo. Cô bước đến bên chiếc phản, ngồi xuống sát cạnh Bình. Anh đang ngồi cúi gập người, hai tay đan vào nhau, ngón tay cái miết mạnh vào vết sẹo dài ngoằng nơi bắp chân trái. Chiếc áo trấn thủ đã được cởi ra vắt trên thành ghế, để lộ mép phong bì màu nâu nhô ra khỏi túi ngực chiếc áo sơ mi bạc màu.

An không nói gì, chỉ lặng lẽ lấy ra chiếc lọ sành nhỏ đựng rượu hạt gấc ngâm mật gấu và vỏ quế mà cô đã cẩn thận chưng cất từ mùa đông năm ngoái. Cô quỳ một chân xuống nền đất nện, vén ống quần bên chân bị thương của Bình lên quá đầu gối.

Bắp chân anh sưng đỏ, vết sẹo chiến trường dài chừng một gang tay tím bầm lại vì gắng sức quá độ lúc tì đòn bẩy bẩy bánh xe tải hạng nặng. An đổ một chút rượu thuốc vào lòng bàn tay, xoa nóng rồi nhẹ nhàng áp lên vết thương của chồng. Bàn tay cô mềm mại, uyển chuyển day từng huyệt đạo, miết dọc theo thớ cơ căng cứng như dây đàn.

Bình khẽ rùng mình một cái, hơi nóng từ bàn tay vợ và sức cay nồng của rượu thuốc xông thẳng vào kinh mạch, xoa dịu cơn đau nhức buốt tận tủy xương. Anh cúi xuống nhìn An, thấy vầng trán thanh tú của cô lấm tấm mồ hôi, hai lọn tóc mai ướt bết dính vào gò má hơi xanh xao vì ốm nghén, lồng ngực anh quặn thắt lại.

“An... để anh tự làm. Em vừa mới mệt, thai còn non, ngồi xổm lâu thế này máu không lên não được đâu.” Bình vội vàng đỡ lấy vai cô, toan kéo cô đứng dậy.

Nhưng An kiên quyết giữ lấy chân anh. Cô ngước đôi mắt trong veo, sâu thẳm nhìn thẳng vào mắt người đàn ông của đời mình:

“Anh để em xoa bóp cho mềm cơ ra đã. Gân cốt bị chèn ép thế này, nếu không day tan máu bầm, vài hôm nữa trở trời anh làm sao mà hành quân được?”

Bàn tay Bình bỗng khựng lại giữa không trung. Lời nói của An nhẹ bẫng, dịu dàng như một làn sương sớm, nhưng từng chữ từng câu lại rành rẽ, chính xác găm thẳng vào nỗi giằng xé sâu thẳm nhất trong lòng anh.

Anh nhìn cô, đôi môi khô nứt khẽ mấp máy: “An... em...”

An mỉm cười, một nụ cười thoáng nét buồn thương nhưng ngời lên sự thấu hiểu tuyệt đối. Cô đứng dậy, ngồi sát lại bên anh trên mép phản, đưa ngón tay mảnh khảnh khẽ chạm vào mép túi áo ngực của anh:

“Em đâu phải người mù, anh Bình. Từ lúc ở triền đê bến đò, nhìn dáng vẻ của đồng chí Bùi Trực, rồi nhìn con dấu đỏ thẫm qua lớp giấy xi măng cộm lên ở ngực áo anh, em đã hiểu rồi. Biên giới phía Bắc đang đánh nhau to... Quân khu có lệnh điều động đặc biệt, phải không anh?”

Bình thở ra một hơi thật dài, cảm giác như hòn đá tảng đè nặng trên ngực nãy giờ bỗng chốc vỡ òa ra thành nỗi đau đớn khôn nguôi. Trước mặt người vợ thông minh, nhạy bén và kiên cường này, anh không bao giờ có thể giấu giếm được bất cứ điều gì.

Bình run run đưa tay vào túi áo trong, rút chiếc phong bì niêm sáp đỏ thẫm đặt lên mặt bàn tre. Dưới ánh sáng le lói hắt vào từ khung cửa sổ, dòng chữ BỘ TƯ LỆNH QUÂN KHU 3 – TÀI LIỆU MẬT và con dấu tròn đỏ rực hiện lên đầy đanh thép.

“Là công điện hỏa tốc,” giọng Bình khàn đặc, đôi mắt anh dán chặt vào mặt bàn, nơi những thớ tre đan đã bóng nước thời gian. “Mặt trận Lạng Sơn, Cao Bằng, Hoàng Liên Sơn... địch tràn qua biên giới dữ dội lắm. Các đơn vị chủ lực đang gồng mình ghìm chân giặc, thương vong không ít. Bộ Tư lệnh Quân khu 3 ra lệnh tổng rà soát, lập danh sách điều động bổ sung đặc biệt đối với toàn bộ sĩ quan, hạ sĩ quan dự bị hạng một từng có kinh nghiệm thực chiến ở chiến trường B. Anh... anh nằm trong danh sách ưu tiên đợt đầu của huyện.”

Bình ngẩng đầu lên, ánh mắt chan chứa nỗi dằn vặt xé lòng:

“Anh là một người lính, An ạ. Năm xưa rời chiến trường miền Nam trở về với cái chân tập tễnh này, anh cứ nghĩ đời mình chỉ còn việc cày sâu cuốc bẫm, đắp bờ giữ đê, phụng dưỡng mẹ già. Rồi anh gặp em... Cuộc đời bù đắp cho anh một người vợ như em, một mái ấm mà trong mơ anh cũng không dám nghĩ tới. Bây giờ em lại đang mang giọt máu của anh, mới có gần hai tháng, ốm nghén xanh xao thế kia... Vậy mà biên cương lại nổi lửa. Tổ quốc gọi, anh không thể trốn tránh, danh dự của một người lính không cho phép anh lùi bước. Nhưng nghĩ đến việc bỏ lại em và u giữa lúc giáp hạt đói kém này, nghĩ đến cảnh em bụng mang dạ chửa phải gánh vác việc làng việc xóm... lòng anh đau như dao cắt, An ơi!”

Bàn tay thô ráp của Bình siết chặt lấy nhau đến mức các đốt ngón tay trắng bệch, khớp xương kêu răng rắc. Người đàn ông dạn dày sương gió, từng đối mặt với bom gầm đạn rú nơi chiến trường khốc liệt, từng không chớp mắt trước mũi súng gươm, giờ đây lại rưng rưng nước mắt trước người phụ nữ bé nhỏ của mình.

An lặng nhìn anh. Trong khoảnh khắc ấy, mọi sự sợ hãi, mọi cảm giác bất an của một người phụ nữ mang thai nơi hậu phương dường như bị đẩy lùi lại phía sau. Là một người xuyên không từ tương lai trở về, cô thấu hiểu hơn ai hết ý nghĩa thiêng liêng và cái giá máu xương của cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới tháng Hai năm 1979. Cô hiểu lòng yêu nước, hiểu khí tiết và nhân cách của Trần Bình — người đàn ông mà cô đã chọn gửi gắm cả cuộc đời. Nếu anh là kẻ hèn nhát trốn tránh trách nhiệm khi đất nước lâm nguy, anh đã chẳng phải là Trần Bình mà cô yêu và kính trọng.

An khẽ vươn tay, nhẹ nhàng áp bàn tay ấm nóng của mình lên mu bàn tay đang run rẩy của chồng. Giọng cô trầm tĩnh, vững vàng như một điểm tựa ngàn đời của người phụ nữ Việt Nam nơi hậu phương:

“Anh Bình, nhìn em này.”

Bình ngước mắt lên, bắt gặp ánh nhìn sáng trong, kiên định lạ thường của vợ.

“Nếu anh vì em, vì con mà chùn bước, trốn tránh trách nhiệm với đất nước, thì đứa bé trong bụng em sau này lớn lên sẽ nhìn bố nó thế nào?” An khẽ mỉm cười, ánh mắt chan chứa tình yêu thương và niềm tự hào sâu sắc. “Anh là cựu chiến binh, là người từng đi qua lửa đạn. Anh hiểu chiến trường hơn bất cứ thanh niên nào trong xã. Đất nước cần những người như anh để giữ gìn từng tấc đất biên cương. Em là vợ anh, em không thể giữ rịt anh bên bậu cửa trong lúc đồng đội anh, con em quê hương đang ngã xuống nơi địa đầu Tổ quốc.”

“An...” Bình nghẹn ngào, cổ họng ứ nghẹn không thốt nên lời.

“Anh đừng lo cho em và con,” An nắm chặt lấy tay anh, giọng nói quả quyết và rành rọt. “Em tuy gầy gò nhưng không yếu đuối đâu. Mấy năm qua ở An Hòa này, sóng gió nào chúng mình chẳng cùng nhau vượt qua được? Em sẽ chăm sóc u thật chu đáo, sẽ bảo đảm năm mẫu đất bãi Soi xanh tốt, sẽ nuôi dạy con thật khỏe mạnh để chờ ngày anh khải hoàn trở về. Việc của anh bây giờ không phải là dằn vặt, mà là dồn toàn tâm toàn lực huấn luyện thật tốt cho năm mươi anh em tân binh của xã, rồi giữ gìn bản thân thật cẩn thận để hoàn thành nhiệm vụ.”

Lời nói của An như dòng nước mát lành tưới vào tâm can đang bỏng rát của Bình, tháo gỡ từng nút thắt nghẹn ngào trong lòng anh. Anh ôm chầm lấy cô vào lòng, ghì chặt lấy bờ vai mảnh khảnh, vùi mặt vào mái tóc thoang thoảng hương bưởi lá sả của vợ, nước mắt người lính lăn dài trên má.

Đêm đó, gió bấc lại rít từng cơn qua khe cửa. Cả làng An Hòa chìm trong giấc ngủ mỏi mệt sau chiến dịch vận chuyển quân lương khẩn cấp.

Trong gian buồng nhỏ, ngọn đèn hoa kỳ vặn nhỏ như hạt đỗ tỏa ra ánh sáng vàng vọt, ấm áp. Bình đã thiếp đi trên giường vì kiệt sức, hơi thở trầm đều, nhưng hàng lông mày rậm trên gương mặt cương nghị của anh vẫn khẽ nhíu lại trong những giấc mơ chập chờn khói súng.

An lặng lẽ ngồi bên chiếc bàn con kê sát vách nứa.

Cô mở chiếc rương gỗ nhỏ đựng của hồi môn, lấy ra sấp vải hoa xanh mậu dịch được bọc cẩn thận trong lớp giấy báo cũ. Đó là sấp vải mà Bình đã chắt chiu từng chiếc tem phiếu vải tiêu chuẩn thương binh hạng nặng của cả năm trời, lặn lội ra tận Cửa hàng Bách hóa Tổng hợp huyện mua về tặng cô dịp tết năm ngoái. Anh từng bảo muốn cô may một chiếc áo sơ mi mới thật đẹp để diện đi đại hội xã viên. An quý nó như báu vật, nâng niu mãi chưa nỡ đem ra cắt may.

Nhưng đêm nay, cô không may áo cho mình.

An lấy chiếc kéo sắt nặng trịch, cẩn thận đo đạc và cắt sấp vải hoa xanh thành từng mảnh vuông vức, tỉ mỉ. Cô muốn may cho Bình một chiếc túi đựng dụng cụ cấp cứu cá nhân nhỏ gọn, chuyên dụng — chiếc túi theo chuẩn sơ cứu chiến trường mà ở thế kỷ hai mươi mốt cô từng được đào tạo trong các khóa sinh tồn y tế.

Từng đường kim mũi chỉ đều tăm tắp, chắc chắn lướt đi thoăn thoắt dưới ánh đèn dầu. An may ba ngăn riêng biệt: một ngăn lót vải dầu chống thấm để đựng bông băng gạc vô trùng; một ngăn nhỏ xíu có nẹp cài để vừa lọ cồn đỏ sát trùng và cuộn chỉ khâu vết thương; ngăn còn lại cô cẩn thận nhét vào những gói bột thảo dược do chính tay cô điều chế từ lá trầu không, vỏ cây núc nác và lá bàng sấy khô tán mịn — thứ bột sát trùng, cầm máu cực kỳ hữu hiệu mà cô từng dùng dập tắt dịch bệnh năm nào.

Ở mặt trong của nắp túi, nơi áp sát vào ngực người đeo, An dùng sợi chỉ đỏ thêu nắn nót từng nét chữ nhỏ: Bình an trở về.

Mỗi một mũi kim đâm xuống là một lời nguyện cầu âm thầm, da diết gửi vào thớ vải. Cổ họng An đắng ngắt vì cơn nghén đang dâng lên từng đợt, bụng dưới thỉnh thoảng lại nhói lên một cơn đau cảnh báo. Nhưng cô không dừng lại. Cô cắn môi, nuốt từng ngụm nước ấm nén cơn buồn nôn, chong mắt khâu vá suốt đêm cho đến khi chiếc túi vải hoa nhỏ nhắn, bền chắc hoàn thành. Chiếc quai đeo bằng sợi dù chắc chắn được may gia cố tới ba đường chỉ chéo, vừa vặn để Bình có thể đeo chéo qua vai, giấu gọn gàng bên trong chiếc áo trấn thủ.

Gần sáng, Bình trở mình thức giấc. Nhìn thấy ngọn đèn dầu vẫn sáng và bóng dáng nhỏ bé của vợ đang cặm cụi bên bàn, anh vội vàng khoác áo bước xuống:

Đăng nhập để thả tim Đăng nhập để tương tác

Ủng hộ tác giả ai4
Mỗi lời động viên là động lực để tác giả tiếp tục sáng tác.

ai4

Tác giả của câu chuyện này · Hãy cùng ủng hộ những chương tiếp theo.

Đăng nhập để theo dõi

Bình luận chương 0

Đăng nhập để tham gia bình luận.

Đang tải bình luận…