Xuyên không thập niên 70

Chương 43: Chân lầy vượt ải

Đoàng!

Tiếng súng ngắn K54 xé toạc màn mưa đặc quánh, dội vào vách đất đê bối sông Đáy rồi ngân vang thành những chuỗi âm thanh chát chúa, lạnh gáy. Vỏ đạn đồng văng ra, rơi tõm vào vũng bùn đỏ quạch dưới chân Thượng úy Vũ. Khói thuốc súng khét lẹt vừa bốc lên đã bị ngọn gió chướng hung hãn từ lòng sông thốc tạt đi mất dạng.

Giữa khoảng trời mù mịt nước, hơn một trăm con người có mặt tại chân dốc đê bối chết sững. Mấy chục tân binh dân quân Đội 3 tay còn cầm đòn xóc, quang sọt, mặt mày tái mét nhìn họng súng đen ngòm trên tay viên sĩ quan quân nhu. Mưa mùa đông rào rào quất thẳng vào da thịt rát buốt, nhưng không ai cảm thấy cái lạnh bằng sự đông cứng trong lồng ngực lúc này.

Bốn tiếng đồng hồ nữa đoàn tàu quân nhu tại ga Thường Tín sẽ kéo còi xuất phát. Mười hai cây số đường lầy lội cắt qua huyện Thường Tín và Thanh Oai. Mà ngay trước mắt họ, chiếc xe tải Zil-130 đi đầu chở nặng mười lăm tấn thóc quân lương đang nằm nghiêng một góc bốn mươi lăm độ, nửa thân xe lún ngập dưới rãnh bùn nhão nhoét sát mép vực sạt lở của sông Đáy. Hai chiếc xe phía sau nằm chết dí thành hàng dài, chặn đứng con đường huyết mạch độc đạo dẫn lên mặt đê.

Mất xe, trễ giờ tàu, tiền tuyến phía Bắc thiếu đói đạn dược và quân lương. Cái giá của sự chậm trễ này không một ai ở hậu phương có thể gánh vác nổi.

Thượng úy Vũ run rẩy hạ nòng súng xuống, bàn tay bóp chặt báng súng đến mức các đốt ngón tay trắng bệch, đôi mắt vằn lên những tia máu đỏ lòm vì uất ức và bất lực.

Giữa bầu không khí nghẹt thở như dây đàn sắp đứt, một bàn tay to bản, thô ráp và ấm nóng bất thần đặt thẳng lên vai viên sĩ quan.

Bình bước tới. Anh không đội nón, chiếc áo trấn thủ màu cỏ úa sũng nước mưa dán chặt vào bờ ngực vạm vỡ. Gương mặt vuông vức dãi dầu sương gió của người lính từng đi qua bom đạn Đắk Tô không hề có lấy một tia hoảng loạn. Đôi mắt anh đen sâu, bình thản và đanh thép lạ thường.

“Đồng chí Thượng úy! Bình tĩnh lại!” Giọng Bình trầm vang, át cả tiếng gió gầm trên mặt đê. “Tiếng súng không kéo nổi mười lăm tấn xe lên khỏi vũng lầy đâu! Nơi này là đất An Hòa. Đội 3 chúng tôi còn người, còn sức, thì dù có phải dùng vai đội xe, chúng tôi cũng quyết đưa đủ năm mươi tấn thóc này đến ga Thường Tín trước giờ tàu lăn bánh!”

Cái siết tay chắc như gọng kìm của Bình dường như truyền một luồng điện sang người viên sĩ quan đang chực suy sụp. Thượng úy Vũ giật mình nhìn Bình, nhìn vào đôi mắt kiên định của người cựu chiến binh Tây Nam, lồng ngực anh ta phập phồng rồi từ từ thở hắt ra một hơi dài, cất vội khẩu K54 vào bao da bên hông:

“Đồng chí Trần Bình... Xe Zil nặng gần mười tấn, cõng thêm mười lăm tấn thóc. Độ dốc đê này gần ba mươi độ, bùn phù sa gặp mưa rào quánh lại như mỡ trơn tuột. Càng rồ ga, bánh càng đào sâu vào rãnh. Lệch thêm ba mươi phân nữa thôi là xe lật úp xuống mép vực sông Đáy! Đồng chí bảo giải tỏa bằng cách nào?”

Bình không đáp ngay. Bản năng của một người lính công binh chiến trường lập tức vận hành trong đầu anh. Anh quét mắt một lượt từ thế nghiêng của bánh xe, độ dốc của taluy đất đê, cho đến sức nước đang xối xả làm xói mòn chân mép vực. Muốn cứu cỗ xe khổng lồ này, nếu chỉ cậy vào sức kéo của động cơ hay dăm ba chục cánh tay người trần mắt thịt thì chỉ chuốc lấy thảm họa.

Phải chia lực. Phải giảm tải. Và quan trọng nhất: phải tạo ra được độ bám trên cái mặt dốc trơn như đổ mỡ này.

“Anh Bình!”

Một tiếng gọi quen thuộc, thanh mảnh nhưng dứt khoát vang lên sau lưng. Bình giật thót mình quay lại. Giữa đám đông đang nhốn nháo, An đang bước vội tới.

Chiếc nón mê trên đầu cô bị gió quất nghiêng ngả, chiếc áo bà ba màu nâu vá vai sũng nước, ống quần xắn cao quá đầu gối để lộ đôi chân mảnh khảnh lấm lem bùn đất. Gương mặt cô nhợt nhạt vì cơn ốm nghén mấy ngày qua và một đêm thức trắng bên lò sấy, nhưng đôi mắt thì sáng quắc một thứ ánh sáng thông tuệ, điềm tĩnh lạ kỳ. Đi ngay sát phía sau cô là chị Đượm, đầu chít dải khăn rằn sũng nước, cùng mấy chục phụ nữ của Đội 1 và Đội 3, người cầm đòn gánh, người ôm chão gai, người vác những bó bạt dứa to bản.

Tim Bình thắt lại. Anh sải bước dài tới đỡ lấy cánh tay An, giọng nghẹn đi vì xót xa:

“An! Sao em lại ra đây? Trời mưa to gió độc thế này, bụng dạ em đang... Mau quay vào nhà kho đi!”

“Em không sao, anh Bình!” An nắm chặt lấy bàn tay thô ráp của chồng, lắc đầu quả quyết. Hơi thở cô hơi gấp, một cơn đau nhói mơ hồ thoáng qua ở bụng dưới vì vận động nhanh, nhưng cô cắn chặt môi nén lại. “Nghe súng nổ là em biết đoàn xe gặp nạn rồi. Ngồi trong kho nhìn ra thì làm sao yên lòng được! Anh nghe em, chiếc Zil-130 này phân bổ tải trọng dồn hết vào hai cầu sau. Bây giờ nó đang đội mười lăm tấn thóc, trọng tâm dồn lệch sang bên phải mép vực, càng để lâu đất càng ngấm nước sạt lở thêm!”

Bình nhìn sâu vào mắt vợ, gật đầu:

“Anh hiểu. Phải dỡ hàng!”

“Đúng! Phải dỡ tải khẩn cấp!” An nói nhanh, từng lời mạch lạc như một mệnh lệnh kỹ thuật được tính toán chi li. “Nhưng dỡ thế nào để thóc không hỏng? Thóc sấy đạt chuẩn loại A mà dính nước mưa rào là coi như công cốc! Em đã huy động toàn bộ chị em phụ nữ Đội 1 và Đội 3. Chị em sẽ chia làm từng tổ hai người, dùng đòn khiêng và bao tải dứa dự phòng bọc kín từng bao thóc, chuyển tải ngược lên mặt đê lát đá cuội đằng kia. Chỉ cần dỡ ra chừng sáu, bảy tấn thóc ở nửa đuôi xe, trọng tâm sẽ được giải tỏa, đuôi xe sẽ nhấc cao lên khỏi mép vực bùn!”

“Thế còn mặt đường dốc?” Bình nheo mắt hỏi, đầu óc anh lập tức khớp nối với phương án của vợ.

“Đường đất ngấm nước mất hoàn toàn ma sát. Phải tạo vỉ lót!” An chỉ tay về phía những đống rạ to tướng ở rìa làng và các luống ngô vừa bẻ bắp ở bãi Soi. “Dùng thân ngô già bện lại làm phên, rải rơm rạ mục và rơm khô đè lên trên, rồi chèn gạch vỡ, đá hộc vào rãnh bánh xe. Nhưng quan trọng nhất là lực kéo... Động cơ xe không tự bứt lên được đâu, dây tời sắt cũng sẽ trượt nếu không có lực kéo phân tán!”

Nghe đến hai chữ “lực kéo”, trong đầu Bình bỗng lóe lên một tia sáng rực rỡ. Đúng rồi! Tại sao anh lại quên mất thứ tài sản vô giá mà Đội 3 đang nắm giữ cơ chứ!

Bình quay ngoắt lại phía Chủ nhiệm Bùi Đắc Khoát và năm mươi tân binh dân quân đang đứng chờ lệnh, lồng ngực anh căng tràn dũng khí. Anh hét lớn:

“Đồng chí Khoát! Các anh em Đội 3 nghe tôi lệnh!”

Toàn bộ sân chân dốc lập tức im phăng phắc. Cả ông Khoát cài chiếc bút Kim Tinh ướt đẫm trên túi áo cũng đứng thẳng người, dỏng tai nghe.

“Hai mươi bốn con trâu mộng của Đội 3 đâu hết rồi? Đợt dịch lở mồm long móng vừa qua, nhờ công cô An và bà con giữ gìn, trâu của chúng ta béo tốt, khỏe nhất huyện Chương Mỹ này! Mau, cử mười hai đồng chí chạy thốc về các chuồng trâu trong xóm, dắt toàn bộ hai mươi bốn con trâu mộng ra đây cho tôi! Mang theo toàn bộ ách cày, dây chão kéo gỗ đại ngàn bằng da trâu và chão bện vỏ cây dướng ra đây!”

“Rõ!” Mười hai thanh niên dân quân gầm lên một tiếng vang dội, lập tức xoay người lao vút đi trong màn mưa trắng xóa như những mũi tên bắn.

Bình quay sang phía các tân binh còn lại và những người đàn ông khỏe mạnh trong làng, giọng anh đanh thép, khúc chiết từng câu:

“Các đồng chí còn lại chia làm ba mũi! Mũi thứ nhất: chạy vào các đống rạ bãi Soi, vác toàn bộ thân ngô già và rơm khô ra đây! Bện thành từng tấm vạt ngô dày nửa gang tay, rộng bằng hai vệt bánh xe Zil! Mũi thứ hai: mang cuốc, xẻng, đào rãnh thoát nước ngay mép ta-luy bên trái, không cho nước mưa từ trên đê tràn xuống khoét thêm vào chân bùn bên phải! Mũi thứ ba: phụ trách đốn những cây tre ngà to bản ven đê, chẻ đôi làm đòn bẩy và nêm bánh xe!”

“Rõ! Làm ngay! Cứu quân lương!” Tiếng hò reo của hàng chục người đàn ông bừng bừng khí thế thời chiến, át hẳn tiếng gầm gào của gió mưa.

Không một ai đứng nhìn. Ông Chủ nhiệm Khoát cởi phăng chiếc áo khoác mút-đờ-xơ đắt tiền, vứt toẹt lên nắp ca-pô chiếc xe Zil phía sau, xắn tay áo lao vào cùng cánh thanh niên vần từng hòn đá hộc từ vệ đê xuống.

Lúc này, An đã chỉ huy đội nữ binh tiếp cận thùng xe chiếc Zil đang lún nghiêng. Tình thế vô cùng hiểm trở. Sàn xe nghiêng dốc khiến những bao thóc năm mươi cân bên trên có nguy cơ sụp đổ bất cứ lúc nào.

Chị Đượm là người đầu tiên trèo lên bánh xe, bám vào thành thùng sắt. Nước mưa chảy ròng ròng trên gương mặt tròn trĩnh của người đàn bà đang mang nỗi đau đáu về người chồng bặt vô âm tín nơi đồn biên phòng Pò Hèn. Nhưng trong ánh mắt chị không còn giọt nước mắt ủy mị nào, chỉ có sự căm hờn giặc dã và một ý chí sắt đá muốn đưa hạt gạo đến tận tay bộ đội.

“Chị em! Thóc này là cơm của chồng, của con, của anh em chúng ta ngoài chiến hào! Một hạt thóc dính nước mưa là một hạt máu của bộ đội bị rơi uổng phí! Trùm bạt kín vào! Chuyền tay nhau!” Chị Đượm hét lên, giọng khản đặc.

An đứng ngay dưới sàn xe làm điểm tựa tiếp nhận. Cô thoăn thoắt dùng những tấm vải nhựa thông và bao tải dứa bọc trùm lên từng bao thóc trước khi hai người phụ nữ xốc đòn khiêng lồng vào dây thừng.

“Một... hai... lên!”

Từng đôi phụ nữ gồng mình bước đi trên lớp bùn trơn trượt. Đôi chân trần của họ bấm sâu vào đất đỏ, cơ bắp căng lên, vai gánh oằn xuống vì sức nặng của bao thóc năm mươi ki-lô-gam. An thoăn thoắt bọc bao, kiểm tra từng đường khâu, mắt không rời từng bước chân của chị em. Thỉnh thoảng, bụng dưới cô lại nhói lên một cơn co thắt nhẹ. An khẽ cắn chặt môi dưới đến rớm máu, đưa một bàn tay lạnh ngắt xoa nhẹ lên bụng mình, thì thầm trong tâm tưởng: “Con ngoan... Cùng u và thầy vượt qua con dốc này nhé. Bộ đội đang đói rét trên chốt, con phải kiên cường lên...”

Như cảm nhận được lời của mẹ, mầm sống bé bỏng dường như lắng dịu lại, để cho dòng năng lượng mãnh liệt của người phụ nữ hai thế hệ tiếp tục tuôn chảy trong huyết quản cô.

Chưa đầy hai mươi phút trôi qua, một cảnh tượng chưa từng có trong lịch sử xã An Hòa đã diễn ra tại chân dốc đê bối sông Đáy.

Hơn một trăm bao thóc — tương đương gần sáu tấn hàng — đã được đội ngũ phụ nữ dỡ xuống an toàn, bọc kín mít không dính một giọt nước mưa, vận chuyển gọn gàng lên đỉnh đê rải đá dăm khô ráo. Thân chiếc xe tải Zil-130 rõ ràng đã nhấc bổng lên được gần hai gang tay, giảm bớt áp lực đè nặng lên mạn sườn sạt lở.

Cùng lúc đó, tiếng thở phì phò dồn dập và tiếng móng guốc nện rậm rịch trên đường làng vang lên. Mười hai cặp trâu mộng của Đội 3 đã được dắt tới!

Hai mươi bốn con trâu đực lực lưỡng, da đen bóng như mun, cặp sừng cánh ná cong vút và vững như hai cánh cung thép. Những tấm ách cày bằng gỗ nghiến chắc nịch đã được tra vào vai từng đôi trâu. Những sợi dây chão bện bằng da trâu già ngâm mỡ bò — thứ ngư cụ kéo gỗ rừng ngập mặn cổ xưa bền chắc vô song — được Bình đích thân kiểm tra từng mối nối.

Bình cởi trần chiếc áo trấn thủ vắt lên vai, để lộ thân hình vạm vỡ chằng chịt những vết sẹo chiến trường, trong đó có vết đạn sượt sâu hoắm ở bắp chân trái. Vết thương cũ gặp trời mưa lạnh buốt đang nhức nhối như có hàng trăm mũi kim châm vào xương tủy, nhưng bước chân anh vẫn vững chãi như bàn thạch.

Anh chỉ huy dân quân trải thảm.

Hàng trăm bó thân ngô già bãi Soi — thứ thân ngô cứng cáp, giàu xơ cellulose được thu hoạch từ giống ngô lai vụ đông — được xếp đan cài hình xương cá dọc theo hai vệt bánh xe. Bên trên thân ngô, người ta rải một lớp rơm khô dày cộp trộn lẫn bùn non pha trấu. Lớp thảm này lập tức hút bớt nước mặt, biến con đường trơn nhẫy thành một bề mặt xơ nháp, gồ ghề đầy ma sát.

“Mắc tời vào móc kéo trước đầu xe Zil!” Bình gầm lên ra lệnh.

Sợi dây cáp thép to bằng cổ tay trẻ con của xe tải được nối dài bằng hai sợi chão da trâu đại bàng, chia làm hai nhánh chẽ ra phía trước. Mười hai con trâu mộng khỏe nhất được xếp thành hai hàng dọc, mỗi hàng sáu con, mắc ách vào dây kéo. Năm mươi thanh niên dân quân chia đều sang hai bên sườn xe, mỗi người cầm một chiếc đòn tre ngà dài ba mét luồn sâu vào gầm xe làm đòn bẩy.

Bình bước đến bên cửa buồng lái chiếc xe Zil, đập mạnh vào cánh cửa sắt:

“Đồng chí lái xe! Nghe hiệu lệnh của tôi! Cài cầu trước, vào số một, đệm nhẹ chân ga để bánh xe quay chậm bắt lấy mặt vỉ ngô! Khi tôi hô giật thì mới được đạp ga dồn lực! Tuyệt đối không được rồ ga đột ngột làm trượt bánh!”

Người chiến sĩ lái xe trẻ măng gật đầu lia lịa, hai bàn tay nắm chặt vành vô-lăng, mồ hôi trán vã ra hòa lẫn nước mưa.

Thượng úy Vũ đứng bên cạnh Bình, run run hỏi:

“Liệu... liệu có kéo nổi không đồng chí Bình? Sức trâu đối đầu với cỗ xe hàng chục tấn dốc đứng thế này...”

Bình nhìn về phía đỉnh đê. Nơi đó, An đang đứng cạnh đống bao thóc bọc bạt cẩn thận. Ánh mắt cô xuyên qua màn mưa dày đặc, dừng lại trên gương mặt anh. Một ánh nhìn không hề có chút hoài nghi, chỉ tràn ngập sự tin cậy tuyệt đối và tình yêu thương sâu thẳm. Ánh mắt ấy truyền cho Bình một sức mạnh vô biên của người đàn ông gánh vác cả gia đình và non sông trên đôi vai mình.

“Kéo được!” Bình nghiến răng, giọng vang như lệnh xuất kích. “Ở Điện Biên Phủ, cha anh chúng tôi kéo pháo nặng hàng tấn qua đèo Pha Đin chỉ bằng đôi tay trần. Hôm nay, chúng ta có trâu mộng, có dân quân, có cả lòng dân An Hòa, không có con dốc nào chặn nổi bước chân chúng ta!”

Bình bước lên vị trí chỉ huy ngay trước mũi xe tải, giữa hai hàng trâu mộng. Anh giơ cao cánh tay phải, bàn tay nắm chặt thành nắm đấm thép:

“Tất cả chú ý! Chuẩn bị!”

Tiếng động cơ xe Zil bắt đầu gầm gừ: Ùng... ùng... ùng... Đám khói đen kịt phì ra từ ống xả phía sau, cuộn tròn trong làn mưa lạnh.

Hai mươi bốn gã lực điền cầm roi đói đứng bên cạnh từng con trâu mộng. Năm mươi thanh niên ghé vai tì vào thân đòn bẩy tre ngà.

Bình hít một hơi lồng lồng khí lạnh vào buồng phổi, rồi vung mạnh cánh tay xuống, thét lên bằng tất cả sức bình sinh:

“HÒ... DÔ TA! KÉO...!”

Đăng nhập để thả tim Đăng nhập để tương tác

Ủng hộ tác giả ai4
Mỗi lời động viên là động lực để tác giả tiếp tục sáng tác.

ai4

Tác giả của câu chuyện này · Hãy cùng ủng hộ những chương tiếp theo.

Đăng nhập để theo dõi

Bình luận chương 0

Đăng nhập để tham gia bình luận.

Đang tải bình luận…