Xuyên không thập niên 70
Chương 42: Guồng chân giữ hạt
Mùi rơm ướt ngai ngái quyện với khói trấu nồng nặc bỗng chốc như đặc quánh lại, nghẹn ứ nơi cuống họng Trần Bình.
Trước mắt anh, chị Đượm nằm bất động trên nền đất nện, vạt áo nâu sồng dính bết những vụn trấu vàng óng. Tiếng bát sành vỡ tan tành vẫn như còn dội lại bên tai, gãy vụn giữa tiếng sấm mùa đông rền vang ngoài bãi sông Đáy. Cả gian kho Đội 3 vừa mới đây còn rộn rã tiếng cười, nay chìm nghỉm vào một khoảng lặng chết chóc. Hơn ba mươi con người đứng chôn chân, những chiếc kim khâu bao tải bằng đồng kẹp hờ giữa những ngón tay run rẩy, ánh mắt dại đi vì hoang mang.
Đồn Pò Hèn bị san phẳng. Toàn bộ phân đội bến phà mất liên lạc.
Bình siết chặt hai nắm đấm, khớp xương kêu khẽ từng tiếng giòn khô. Từng là một người lính lăn lộn qua những cánh rừng khộp rực lửa miền Tây Nam, anh hiểu rõ hơn ai hết cái cụm từ "không còn ai liên lạc được nữa" cay đắng và khốc liệt đến mức nào. Nhưng anh cũng hiểu, nếu lúc này người chỉ huy dao động dù chỉ một giây, toàn bộ gian kho này sẽ sụp đổ như một bờ đê cát lở.
“U Mẫn! Chị Thoa!” Giọng Bình vang lên, trầm đanh và dứt khoát như một khẩu lệnh thép giữa chiến hào, xé toạc bầu không khí đông cứng. “Hai người đỡ chị Đượm vào gian buồng trong, giã ngay một nhánh gừng già hòa nước nóng với tí muối hạt cho chị ấy uống, tuyệt đối không được để chị ấy nhiễm lạnh! Chú Hai, lấy chai dầu tràm của tôi bôi vào hai thái dương và nhân trung cho chị ấy!”
Hai người phụ nữ luống cuống dạ ran, vội vàng xốc nách chị Đượm đưa vào góc buồng đệm rơm khô.
Bình quay ngoắt lại. Chủ nhiệm Bùi Đắc Khoát vẫn ngồi bệt trên bao thóc, hai bàn tay thô ráp bưng lấy mặt, mái tóc hoa râm rung lên bần bật. Chiếc bút máy Kim Tinh kẹp ở túi áo tuột ra tự bao giờ, lăn lóc dưới đất. Người đàn ông ngoài năm mươi tuổi, từng kinh qua bao bận đạn bom phá hoại của giặc Mỹ, lúc này dường như bị đè bẹp bởi hai chữ "hai mươi tư tiếng".
“Năm mươi tấn... Trước mười hai giờ trưa mai...” Ông Khoát lẩm bẩm, giọng khản đặc như tiếng cối xay cạn thóc. “Đường đê lầy lội mười mấy cây số... Còn gần bốn mươi tấn thóc đang ủ nóng... Làm sao kịp? Trời ơi, làm sao mà kịp được đây Bình ơi! Chậm tàu thì bộ đội ngoài biên ải ăn bằng cái gì?”
Một vài xã viên bắt đầu sụt sùi. Tiếng khóc thút thít của mấy cô gái trẻ Đội 1 len lỏi giữa tiếng gió hú qua khe cửa kho. Sự tuyệt vọng lây lan nhanh như đốm lửa bén vào rơm khô.
Bình bước tới, cúi nhặt chiếc bút máy Kim Tinh lên, cẩn thận lau sạch bụi trấu rồi đặt lại vào tay người chủ nhiệm già. Khi anh toan mở lời, một bàn tay nhỏ nhắn nhưng ấm áp đã nhẹ nhàng đặt lên mu bàn tay anh.
Bình giật mình quay sang. Hoài An đang đứng đó.
Gương mặt cô tái nhợt vì cơn ốm nghén và chuỗi ngày thức trắng bên lò sấy, quầng mắt thâm lại, nhưng sâu thẳm trong đôi mắt sáng ngời ấy lại là một sự bình thản đến lạ lùng. Cô đứng cạnh anh, mảnh khảnh như một nhành lau ven đê trước gió bão, nhưng sống lưng thẳng tắp.
Bình cảm nhận được hơi ấm quen thuộc truyền qua lớp vải áo trấn thủ, nơi lồng ngực anh nhói lên một nhịp xót xa. Vợ anh đang mang trong mình giọt máu của anh, mới chưa đầy hai tháng. Mầm sống bé bỏng ấy đáng lẽ phải được nghỉ ngơi trên chiếc giường ấm đệm rơm, được bồi dưỡng từng bát cháo hoa trứng gà, vậy mà giờ đây cô đang phải cùng anh gánh cả một núi quân lương ngút ngàn.
An nhìn thẳng vào mắt Bình, khẽ gật đầu, rồi quay sang nhìn toàn thể bà con xã viên. Giọng cô không lớn, nhưng rành rọt, đượm một sức truyền cảm kỳ lạ:
“Thưa bác Khoát! Thưa các bác, các cô chú và anh chị em!”
Mọi tiếng xì xào, than khóc bỗng chốc lắng xuống. Mọi cặp mắt đều dồn về phía người nữ kỹ sư trẻ tuổi.
“Anh Cán và các anh bộ đội ở Pò Hèn, ở Lạng Sơn, ở khắp dải biên cương phía Bắc không lùi bước trước đạn pháo giặc. Họ ngã xuống hay còn sống, súng vẫn đang nổ bên tai họ từng phút từng giây! Tin tức mất liên lạc không có nghĩa là anh Cán đã hy sinh. Chiến sự ác liệt, đứt đường dây hữu tuyến là chuyện thường tình nơi trận mạc. Nhưng nếu chúng ta ở đây buông xuôi, nếu năm mươi tấn gạo này không đến được ga Thường Tín trước mười hai giờ trưa mai, đoàn tàu quân nhu sẽ lăn bánh rỗng toa! Đồng đội của anh Cán, của anh Nam, của anh Bình ngoài ấy sẽ phải nhịn đói để cắn răng giữ từng tấc đất!”
An hít một hơi sâu, đôi gò má rám nắng khẽ ửng hồng vì xúc động:
“Chúng ta có một lò sấy trấu đã vận hành thông suốt. Chúng ta có năm mươi thanh niên dân quân khỏe mạnh, có toàn bộ bà con Đội 1 và Đội 3 một lòng vì tiền tuyến. Nước mắt lúc này không đổi được hạt gạo nào cho bộ đội. Muốn cứu anh Cán, muốn tiếp sức cho chiến trường, cách duy nhất là guồng chân đạp lò, vung tay quạt thóc! Từng hạt thóc sạch giao đi trưa mai chính là từng viên đạn bắn trả quân thù!”
Lời nói của An như một luồng điện giáng thẳng vào tâm can mọi người. Ông Khoát ngẩng phắt đầu dậy, quệt mạnh mu bàn tay ngang khóe mắt đỏ hoe. Chiếc bút máy được ông cắm phập lại vào túi áo ngực.
“Đúng! Cô An nói chí phải!” Ông Khoát đứng phắt dậy, lồng ngực phập phồng. “Tôi hồ đồ quá rồi! Cả đời Bùi Đắc Khoát này chưa từng lùi bước trước giặc Mỹ, lẽ nào lại gục ngã trước ba mươi tấn thóc? Bình! Đồng chí là Chỉ huy trưởng, đồng chí ra lệnh đi! Tôi giao toàn bộ quyền điều hành nhân lực của hai đội cho đồng chí!”
Bình nhìn An, ánh mắt hai người giao nhau trong khoảnh khắc. Trong lòng anh trào dâng một niềm kiêu hãnh và biết ơn vô hạn đối với người phụ nữ đồng cam cộng khổ cùng mình. Anh quay lại đối diện với đám đông, tác phong của một người lính dạn dày trận mạc lập tức bao trùm toàn bộ gian kho.
“Các đồng chí nghe rõ đây!” Bình cất giọng đanh gọn. “Huyện đội giao chỉ tiêu thời chiến, chúng ta chấp hành theo kỷ luật thời chiến! Tôi chia lực lượng làm ba mũi giáp công: Mũi thứ nhất gồm hai mươi dân quân khỏe mạnh, tiếp tục thay phiên nhau đạp quạt thổi nhiệt lò sấy trấu. Nhiệt độ buồng sấy phải giữ vững ở mức năm mươi lăm đến sáu mươi độ C, sấy đảo tầng liên tục theo phương pháp của cô An, dứt khoát giải quyết xong ba mươi tấn thóc ướt còn lại trước bốn giờ sáng!”
“Rõ!” Hai mươi thanh niên đồng thanh hô lớn.
“Mũi thứ hai gồm các mẹ, các chị và tổ thợ thủ công, chịu trách nhiệm chuẩn bị bao tải, lá chuối hột khô lót đáy và kim khâu. Bao thóc ra lò đến đâu, đóng gói niêm phong đến đấy!”
Bình thoáng ngập ngừng, nhìn về phía góc kho nơi đống thóc sấy mẻ đầu tiên đang bốc khói nghi ngút:
“Nhưng cái khó nhất lúc này... là khâu làm sạch. Thóc sau khi sấy ra còn lẫn trấu vỡ, mày trấu và hạt lép bám bụi tro. Muốn đạt chuẩn loại A giao cho Quân khu, bắt buộc phải quạt sạch tinh tươm. Nhưng kho chỉ có bốn chiếc quạt hòm bằng gỗ quay tay cũ kỹ, năng suất mỗi giờ không quá hai tạ. Nếu quạt thủ công, ba mươi tấn thóc này phải mất trọn ba ngày ba đêm!”
Cả gian kho lại thoáng chùng xuống. Đó chính là cái nút thắt hiểm nghèo nhất. Lò sấy có thể chạy hết công suất, nhưng thóc sấy xong mà đầy trấu lép thì tàu quân nhu cũng dứt khoát từ chối tiếp nhận.
Giữa lúc Bình đang nhíu chặt đôi mày tính toán, An đã bước nhanh về phía góc hiên kho, nơi đặt chiếc xe đạp Thống Nhất cũ kỹ của đội trưởng đã gãy một bên pê-đan, khung xe han rỉ tróc sơn lơ thơ.
“Anh Bình! Em đã tính đến việc này rồi.” An ngồi xổm xuống bên chiếc xe đạp, ngón tay thoăn thoắt chỉ vào bộ trục giữa và đĩa xích. “Chúng ta không dùng quạt hòm thủ công nữa. Ta sẽ biến chiếc xe đạp này thành máy quạt ly tâm hai tầng cánh!”
Bình bước nhanh lại gần, cúi người nhìn theo tay vợ: “Ý em là tận dụng tỷ số truyền của đĩa xích xe đạp?”
“Đúng thế anh!” Đôi mắt An sáng rực lên, xua tan đi vẻ mệt mỏi. “Một vòng đạp của đĩa xích lớn xe đạp Thống Nhất có thể làm líp sau quay tới gần ba vòng. Nếu ta nối trục líp sau với một trục cánh quạt bằng gỗ hoặc tôn, gắn trong một buồng gió hình ốc xoắn, tốc độ gió sẽ tăng gấp năm lần so với quạt hòm quay tay! Hơn nữa, ta sẽ làm hai cửa gió đối lưu: cửa trên thổi bay mày trấu nhẹ và bụi tro ra ngoài bạt chắn; cửa dưới dùng luồng gió thứ cấp để tách hạt lửng ra một máng riêng, hạt mẩy nặng nhất sẽ tự động rơi thẳng xuống máng dẫn vào bao tải! Một người ngồi đạp nhẹ nhàng bằng hai chân có thể quạt sạch năm tạ thóc chỉ trong hai mươi phút!”
Bình nghe mà lồng ngực đập thình thình. Tư duy cơ khí của An sắc sảo và thực tế đến mức khiến một người lính công binh như anh cũng phải bàng hoàng khâm phục. Không chần chừ một tích tắc, Bình quay ngoắt lại gọi giật giọng:
“Bác thợ rèn Sáu! Chú Thược thợ mộc! Đem cưa sắt, đe búa và kìm cộng lực lại đây ngay! Lấy cho tôi hai chiếc thùng phuy sắt rỗng đựng dầu hỏa cũ ở sau trạm máy bơm, với mấy tấm cót ép!”
Chỉ trong vòng mười lăm phút, một góc sân kho Đội 3 đã biến thành một công xưởng dã chiến ngập tràn ánh lửa và tiếng kim loại va đập chan chát. Dưới sự chỉ dẫn tỉ mỉ từng chi tiết của An, chú Thược thoăn thoắt đo đạc, dùng đục gỗ bổ đôi một thân gỗ xoan khô để làm trục quạt, gọt rãnh định vị. Bác Sáu thợ rèn vung búa quai đập bẹp các nắp thùng phuy mỏng, dùng kéo cắt tôn gò thành bốn cánh quạt uốn cong theo góc nghiêng ba mươi độ để tối ưu hóa sức hút ly tâm.
Bình tự tay dùng cờ-lê tháo bỏ bánh sau của chiếc xe đạp Thống Nhất, giữ lại nguyên vẹn cụm khung, đĩa xích, líp và bàn đạp. Anh dùng đinh đỉa và dây kẽm cỡ lớn cố định chặt gác-ba-ga và cọc yên xe vào hai cây cột cái bằng gỗ lim của gian kho, tạo thành một bệ máy vững như bàn thạch. Cụm trục quạt được hàn nối trực tiếp với trục líp xe đạp qua một khớp nối bằng ống tuýp nước lót cao su ruột xe hỏng để chống rung giật.
“Xong rồi! Xong bộ buồng gió ốc xoắn rồi!” Chú Thược reo lên, mồ hôi nhễ nhại chảy ròng ròng trên gương mặt ám khói. Buồng quạt bằng cót ép nẹp tôn sáng loáng đã được ốp khít trùm lên cụm cánh quạt, phía trên đặt một chiếc phễu tôn lớn có tấm chắn điều chỉnh lưu lượng thóc rơi.
“Để tôi thử cho!” Chiến sĩ dân quân trẻ tên Duẩn hăm hở nhảy tót lên yên xe đạp.
Hai bàn chân Duẩn đặt lên pê-đan, bắt đầu guồng nhịp nhàng. Xích líp rào rào chuyển động. Ban đầu còn hơi rít vì dầu mỡ khô, nhưng khi Bình tra thêm vài giọt dầu nhớt thừa, trục quay bắt đầu rú lên một âm thanh xé gió cực kỳ êm ái: Vù... vù... vù...!
Một luồng gió xoáy cực mạnh thốc thẳng ra từ miệng buồng gió, làm tấm bạt dứa dựng cách đó bốn mét bay phần phật!
“Tuyệt vời quá!” Ông Khoát vỗ đùi đánh đét một cái, cười toát cả mồ hôi. “Gió khỏe thế này thì trấu nào chịu nổi!”
“Đổ thóc vào thử nghiệm!” Bình hét lớn át tiếng gió rít.
Hai thanh niên lập tức vác một bao thóc sấy còn nóng hổi trút vào phễu nạp. Dưới sự điều chỉnh cần gạt của An, dòng thóc vàng ươm tuôn đều đặn thành một màng mỏng rơi qua luồng gió ly tâm.
Một cảnh tượng kỳ diệu diễn ra trước mắt toàn thể bà con xã viên!
Mày trấu, vụn rơm và bụi bặm vừa rơi xuống lập tức bị luồng gió thứ nhất bốc bạt bay xa tít tắp, rơi gọn gàng vào trong quây bạt chắn bụi. Hạt lửng, hạt lép nhẹ hơn bị đẩy dạt vào một máng tôn nghiêng bên cạnh, chảy rào rào thành đống nhỏ. Trong khi đó, những hạt thóc chắc mẩy, nặng hạt, vàng ruộm như hạt ngọc thì lao thẳng xuống phễu thu phía dưới, trút vào bao tải đay nhanh như thác đổ!
Không một hạt bụi bám lại! Thóc sạch bóng, trơn láng và khô cong!
Chưa đầy bốn phút, trọn vẹn một tạ thóc đã được làm sạch tinh tươm, không sót lại dù chỉ một vụn mày trấu!
“Trời phật ơi... Thần kỳ quá!” Một bà cụ Đội 1 chắp tay xuýt xoa. “Bằng cả chục người quạt hòm còng cả lưng suốt nửa buổi sáng!”
Bình đứng bên cạnh bệ máy, nhìn dòng thác thóc vàng óng tuôn chảy rào rào dưới ánh đèn măng-xông, rồi nhìn sang An. Cô đang mỉm cười, nụ cười rạng rỡ làm sáng bừng cả gương mặt hao gầy. Nhưng Bình tinh ý nhận ra một bàn tay cô đang khẽ ấn vào bụng dưới, chân hơi run lên vì đứng lâu.
Bình bước vội tới, không màng đến ánh mắt của hàng chục người xung quanh, anh vòng tay ôm lấy eo vợ, nhẹ nhàng kéo cô ngồi xuống chiếc ghế đẩu lót bao tải êm cạnh vách kho. Anh rút chiếc khăn dù hoa cài bên hông, cẩn thận chấm những giọt mồ hôi li ti vương trên trán và sống mũi thon thả của cô.
“Em ngồi nghỉ ở đây chỉ huy thôi. Nghe anh, không được cử động mạnh nữa.” Bình thì thầm, giọng trầm xuống đầy tha thiết và kiên quyết. “Con nó đang nhắc nhở em đấy. Mọi việc chân tay, đã có anh và anh em gánh vác.”
An ngước nhìn chồng, ánh mắt đong đầy sự tin cậy và dịu dàng. Cô khẽ gật đầu, nắm lấy bàn tay thô ráp của Bình:
“Em không sao đâu anh. Chỉ hơi mỏi lưng một chút thôi. Nhưng anh nhớ nhắc mọi người, tốc độ quạt tuy nhanh nhưng tuyệt đối không được lơ là khâu kiểm định độ ẩm. Quân nhu ngoài mặt trận đi tàu hỏa qua đèo dốc sương muối, nếu thóc còn ẩm quá mười ba phần trăm thì chỉ ba ngày là bốc men mốc thối, công sức chúng ta coi như đổ xuống sông xuống biển!”
“Anh hiểu.” Bình gật đầu. “Nhưng trong kho không có ẩm kế, làm thế nào để bà con tự kiểm tra chính xác từng mẻ?”
An khẽ mỉm cười, với tay lấy một chiếc bát sành mộc trên bàn chia công điểm, giải thích cặn kẽ:

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…