Xuyên không thập niên 70
Chương 47: Mái ngói sông Cầu
Cơn đau buốt từ vùng thắt lưng giáng xuống như một nhát búa bổ, khiến hơi thở của Hoài An nghẹn lại nơi cuống họng. Nước mưa xối xả lạnh ngắt táp thẳng vào mặt, hòa lẫn với mồ hôi rịn ra đầm đìa bên thái dương. Dưới lớp bùn đất nhão nhoét của góc sân, cô cảm nhận rõ rệt từng thớ cơ ở bụng dưới đang co rút dữ dội thành từng cơn quặn thắt, như muốn bứt đứt mầm sống bé bỏng mới chỉ tượng hình được hơn mười tuần tuổi.
“An! Trời đất ơi, An ơi!”
Tiếng thét xé lòng của Trần Bình vang lên át cả tiếng sấm rền. Chiếc búa đóng đinh văng bạt vào góc rui mè, anh từ trên chiếc thang tre nhảy thẳng xuống khoảng sân lầy thụt, mặc kệ chiếc chân trái mang thương tật nhói buốt khi tiếp đất. Bình lao tới, quỳ sụp xuống vũng nước mưa ngập ngụa, đôi bàn tay vạm vỡ run lẩy bẩy không dám chạm mạnh, chỉ sợ làm vỡ vụn người vợ trẻ đang nằm co quắp dưới chân thành giếng.
“Anh... con... bụng em đau quá...” — Giọng An thều thào, môi cô tím tái lại vì lạnh và vì cơn hoảng loạn tột cùng. Bàn tay nhỏ bé bấu chặt lấy cổ tay áo ướt sũng của chồng, mười đầu ngón tay trắng bệch ra vì dùng sức.
Bình không chần chừ một giây. Anh luồn một cánh tay qua bờ vai gầy, tay kia đỡ lấy khoeo chân cô, nhẹ nhàng nhưng dứt khoát bế bổng An lên khỏi vũng nước bẩn. Cơ thể An nhẹ bẫng, run rẩy như một cánh chim non rụng lông giữa bão táp.
“U ơi! Soi đèn! Lấy cho con cái chăn khô!” — Bình vừa gào lớn vừa sải bước đạp tung cánh cửa buồng trong.
U Mẫn lật đật bưng chiếc đèn hoa kỳ bóng bọc muội đen chạy ra, mặt bà cụ cắt không còn hột máu. Nhìn thấy An ướt sũng, gương mặt trắng bệch không còn huyết sắc, bà run lẩy bẩy làm rơi cả chiếc que diêm vừa quẹt:
“Phật thánh phương trời phù hộ cho con tôi! Bình ơi, đặt nó nằm nghiêng ra sập gụ, mau lên con! Để u cởi áo ướt, lấy chăn chèn lưng cho nó!”
Đặt được vợ xuống tấm sập gụ lót chiếu cói còn vương chút hơi ấm, Bình nhìn thấy vạt sau chiếc quần lụa đen của An đã lấm tấm những giọt dịch hồng loãng hòa lẫn nước mưa. Đồng tử anh co rút lại, tim như bị bóp nghẹt. Từng lăn lộn trên chiến trường miền Tây Nam khói lửa, từng chứng kiến đồng đội bị mảnh pháo phạt đứt lìa thân thể, anh chưa bao giờ thấy sợ hãi đến tê dại cả chân tay như giây phút này.
“Anh đi gọi cụ lang Cảnh! U trông nhà, chốt chặt then cửa buồng lại kẻo gió lùa!”
Bình quay ngoắt người, thậm thọt lao vụt ra màn mưa đen đặc như mực. Anh không kịp khoác áo tơi, cũng chẳng màng chiếc dép cao su bị tuột quai lại nơi bờ rào dâm bụt, cứ thế chân trần đạp trên sỏi đá sắc lẹm của con đường đê mà chạy thốc về phía xóm Thượng.
Nằm trên sập, An cố gắng ghìm từng hơi thở. Tri thức y sinh học của thế kỷ hai mươi mốt thôi thúc trong tâm thức cô: Bình tĩnh, phải thở sâu, thở cơ hoành, không được hoảng loạn, hoảng loạn sẽ làm tăng tiết adrenaline gây co bóp tử cung mạnh hơn. Cô đặt bàn tay lạnh ngắt lên bụng dưới, nhẹ nhàng xoa theo chiều kim đồng hồ, thầm thì với sinh linh bé nhỏ: Con ơi, bám chặt lấy mẹ... Đừng buông... Bố mẹ ở đây với con...
Chừng hai mươi phút sau, cánh cửa liếp bật mở. Cụ lang Cảnh — ông cụ ngoài bảy mươi tuổi râu tóc bạc phơ, mặc chiếc áo tơi lá cọ dột nát, tay ôm chặt chiếc giỏ mây đựng ống thuốc — được Bình dìu xộc vào buồng.
Cụ lang vuốt vội nước mưa trên mặt, ngồi thụp xuống mép sập gụ, đặt ba ngón tay xương xẩu lên lằn chỉ cổ tay gầy guộc của An. Gian buồng im phăng phắc, chỉ còn tiếng gió lốc rít gầm ngoài hiên và tiếng thở dốc nghẹn ngào của Bình.
Một phút trôi qua tựa hồ cả thế kỷ. Cụ lang Cảnh thở phào một hơi dài, mở mắt ra:
“Phúc tổ bảy đời nhà anh chị! Cú va đập chệch vào mạn hông sau, thành giếng xây bằng gạch mộc rêu bám nên có độ xốp, chưa phạm vào xương chậu. Khí huyết có nghịch hành, thai khí chao đảo, ra chút huyết dịch mép ngoài là triệu chứng dọa sảy, nhưng mạch tượng bên trong vẫn còn giữ được gốc rễ.”
Nghe đến đó, đôi vai căng cứng như đá tảng của Bình bỗng sụp xuống, anh tựa lưng vào mép cột nhà, hai bàn tay ôm lấy mặt, bờ vai rung lên bần bật.
Cụ lang Cảnh nhanh thoan thoắt mở đãy vải, lôi ra mấy vị thuốc khô:
“U Mẫn, xuống bếp nhóm lửa ngay! Lấy một nắm củ gai khô thái lát này, phối với một vốc ngải cứu già sao cho cháy cạnh thành màu đen, giã thêm ba nhánh gừng nướng lùi tro, đổ hai bát nước sắc cạn còn nửa bát, cho con bé uống nóng! Còn anh Bình, ngày mai lên đồi bới thêm củ gai tươi về giã lấy nước cốt cho vợ uống cầm chừng. Từ giờ phút này, cô An phải nằm bất động trên giường, tuyệt đối không được bước chân xuống đất, không gánh gồng, không lo nghĩ trong ít nhất một tháng rưỡi. Nếu để động thai lần nữa, có là thần tiên cũng không giữ nổi!”
Bát thuốc ngải cứu sao cháy đen ngòm, đắng ngắt và nồng nặc mùi tro bếp được Bình cẩn thận thổi từng thìa, bón cho An uống. Hơi ấm của bát thuốc thảo mộc và vị đắng chát đặc trưng lan dần xuống dạ dày, làm dịu đi những cơn co thắt nhói buốt. Khi An chìm vào giấc ngủ chập chờn vì kiệt sức, ngoài trời gió dông cũng dần tan, chỉ còn lại tiếng mưa rỉ rả rơi trên những vũng bùn trước sân.
*
Sáng hôm sau, bầu trời sau trận dông lốc sáng trong một cách kỳ lạ, nhưng khung cảnh gia đình Bình thì xơ xác đến nao lòng.
Gần một nửa mái rạ của gian nhà giữa đã bị gió lốc cuốn phăng, để trơ ra những thanh rui mè bằng tre ngâm đã mủn mục vì mọt. Nền đất trong nhà nhão nhoét, bốn bồ thóc giống quý được phủ ba lớp bạt rách và bao tải dù may mắn không ướt sũng nhưng cũng bốc lên mùi ẩm mốc ngột ngạt.
Tin vợ chồng Bình gặp nạn trong đêm bão nhanh chóng lan truyền khắp làng An Hòa.
Mới tảng sáng, khi tiếng kẻng hợp tác xã còn chưa vang lên, cổng ngõ nhà Bình đã rộn rã tiếng bước chân. Người đầu tiên xộc vào là chị Đượm, tay cắp chiếc rổ xảo đựng một chục trứng gà so và mớ lá củ gai tươi vừa bới vội ngoài bờ mương. Nhìn thấy An nằm thiếp đi trên giường, gương mặt tái nhợt dán chặt vào gối rơm, chị Đượm không kìm được, òa khóc nức nở:
“Trời ơi là trời! Cái con bé này, thóc giống của hợp tác chứ có phải của riêng nhà mày đâu mà liều mạng thế hả An ơi! Mày mà có mệnh hệ gì với đứa bé trong bụng thì tao... tao biết ăn nói thế nào với chú Bình, với hai bác cụ giáo bên nhà!”
Chị Đượm kéo vạt áo nâu lau nước mắt, rồi vội vàng xắn tay áo đi thẳng xuống bếp phụ u Mẫn đun nước, giã lá củ gai lấy nước cốt.
Chỉ nửa giờ sau, sân nhà Bình đã chật kín người. Không ai bảo ai, mười bốn hộ xã viên của Đội 3 — những người đã từng cùng Bình và An đặt mười bốn dấu điểm chỉ đỏ lên bản cam ước bãi Soi — lục tục kéo đến. Người vác theo chiếc xẻng, người cắp đòn xóc, người gánh đôi sọt tre.
Rồi đến cả Chủ nhiệm Bùi Đắc Khoát. Ông Khoát mặc chiếc áo đại hàn bạc phếch, chiếc bút máy Kim Tinh cài lệch một bên túi, đi ủng cao su lội bì bõm qua khoảng sân lầy. Đứng giữa gian nhà dột nát, nhìn lên khoảng trời trống hoác trên nóc nhà rồi nhìn vào người con gái kỹ sư đang nằm bất động trong buồng, người đàn ông vốn quen với những bản báo cáo chỉ tiêu khô cứng bỗng thấy cay xè nơi khóe mắt.
Ông Khoát quay ra sân, gõ mạnh cán tẩu thuốc vào thân cây cau, giọng khàn đặc nhưng dứt khoát:
“Các đồng chí! Toàn thể bà con Đội 1 và Đội 3 nghe tôi nói đây!”
Hàng chục con người đang túm tụm quanh góc sân lập tức im bặt, ngước nhìn vị Chủ nhiệm hợp tác xã.
“Cả cái xã An Hòa này mang ơn vợ chồng thằng Bình con An!” — Ông Khoát nghẹn giọng, đưa tay chỉ về phía bốn bồ thóc giống còn nguyên vẹn kê trên bệ gạch — “Nếu không có con An bày cách ủ men sấy trấu, năm mươi tấn quân lương chi viện cho mặt trận biên giới phía Bắc tuần trước đã thối rữa thành bùn. Nếu đêm qua nó không liều mình che chắn bồ thóc giống, thì vụ mùa tới cả đội lấy cái gì mà cấy? Chúng nó vì việc công mà đến manh chiếu rách che đầu cũng không giữ nổi, vợ thì suýt sẩy thai! Tôi hỏi các đồng chí, chúng ta là người cùng một làng, cùng ăn hạt gạo sông Đáy, chúng ta có để cho mẹ con nó phải nằm ổ dưới cái mái rạ dột nát này không?”
“Không bao giờ!” — Bác Trưởng xóm Thượng, một lão nông tóc hoa râm, quắc mắt vung chiếc xẻng lên — “Nhà tôi có sẵn ba xe cải tiến gạch mộc phơi khô dưới bóng râm từ vụ trước, định để dành sửa cái chuồng lợn. Nay tôi ủng hộ hết cho vợ chồng chú Bình!”
“Nhà tôi còn hai cây xoan đào ngâm đáy ao ba năm nay, vỏ đã róc trắng phau, đem lên xẻ làm xà gồ, rui mè thì đố con mọt nào gặm nổi!” — Anh Đội phó Đội 1 tiếp lời dõng dạc.
Chị Đượm từ dưới bếp chạy vụt lên, mắt còn đỏ hoe nhưng giọng sang sảng:
“Báo cáo bác Chủ nhiệm! Đợt vừa rồi Đội 3 hoàn thành vượt mức một nghìn chiếc làn mây xuất khẩu Đông Âu loại A, bên Ngoại thương huyện thưởng cho đội phiếu vật tư đặc cách. Em xin thay mặt chị em tổ mây tre đan, đề nghị trích toàn bộ số phiếu đó đổi lấy một vạn ngói sông Cầu và mười bao xi măng Hải Phòng! Ai không đồng ý cứ bước qua mặt con Đượm này!”
“Đồng ý! Cả đội đồng ý!” — Tiếng hô vang dậy cả góc xóm nghèo, át đi sự ảm đạm sau đêm mưa bão.
Trần Bình đứng lặng bên hiên nhà, sống mũi cay xè. Anh chắp hai tay lại trước ngực, cúi gập người trước bà con xóm giềng, cổ họng nghẹn ứ không thốt nên lời. Tình nghĩa của người nông dân Bắc Bộ thời bao cấp là thế — trong cái đói, cái nghèo, cái thiếu thốn trăm bề của tem phiếu, họ có thể so đo từng lạng mỡ, từng cân bo bo, nhưng khi hoạn nạn cận kề, họ sẵn sàng dốc cạn những gì quý giá nhất trong góc bếp, đáy ao để đùm bọc lấy nhau.
*
Để đảm bảo cho An được yên tĩnh tuyệt đối dưỡng thai, Bình cùng các anh em dân quân cẩn thận khiêng cả chiếc sập gụ đưa cô sang gian nhà ngang kiên cố của cụ giáo Khiêm ở cách đó hai bờ rào. Gian nhà cũ ba gian mái rạ nhanh chóng được dỡ bỏ. Tiếng choang choang của xà beng đào móng, tiếng xe cải tiến chở đất đá lạo xạo trên đường thôn xua tan đi vẻ tĩnh mịch thường ngày.
An nằm trên giường bệnh, sắc mặt sau một tuần uống nước củ gai và ngải cứu đã hồng hào trở lại. Dù cụ lang Cảnh và mẹ đẻ nghiêm cấm cô bước chân xuống đất, nhưng cái đầu của một nữ kỹ sư thế kỷ hai mươi mốt thì không chịu nằm yên.
“Anh Bình, đưa cho em mẩu bút chì mộc với mấy tờ giấy xi măng vỏ bao rách kia.” — An nghiêng người, gọi với ra cửa sổ khi thấy bóng chồng đang lúi húi xách xô vữa qua.
Bình vội lau bàn tay dính đầy vôi vữa vào chiếc quần bảo hộ lao động màu cỏ úa, bước vào buồng, cau mày trách khéo nhưng ánh mắt tràn ngập cưng chiều:
“Em lại tính làm gì đấy? Cụ lang dặn phải nằm yên tĩnh dưỡng, không được hao tâm tổn tứ kia mà.”
“Em nằm yên trên giường, chỉ vẽ thôi, có động chân động tay đâu mà anh sợ.” — An cười dịu dàng, kéo tay chồng ngồi xuống mép giường — “Anh nghe em. Dựng nhà ba gian ngói đỏ là việc cả đời, bà con đã thương tình góp công góp của, mình không thể làm bừa theo kiểu cũ được. Nhà nông thôn Bắc Bộ xưa nay hay bị ẩm thấp vì móng nông, mùa hè thì hầm hập như lò than, mùa đông gió bấc lại lùa thấu xương. Anh đưa giấy đây em vẽ sơ đồ đối lưu không khí và hệ thống xử lý vệ sinh cho thợ xây.”

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…