Xuyên không thập niên 70

Chương 50: Khúc ca sum vầy

Gió bấc cuối đông thổi lùa qua những rặng chuối tiêu trĩu quả ven triền đê, cuốn theo mùi phù sa nồng ngái quen thuộc của dòng sông Đáy quyện cùng hơi lạnh căm căm đặc trưng của đất trời Bắc Bộ. Chiều muộn ngày ba mươi tháng Chạp năm 1979, vạt nắng quái đỏ ối cuối cùng rớt xuống sau rặng núi Ba Vì mờ xa, dát lên mặt nước phẳng lặng một dải lụa màu tím biếc mênh mang.

Tiếng loa nén bằng tôn thiếc trên ngọn đa cổ thụ đã tắt tự lúc nào sau bản tin đặc biệt về tinh thần cởi trói kinh tế của Hội nghị Trung ương 6, nhưng thanh âm trầm hùng, sang sảng ấy dường như vẫn còn đọng lại, rung ngân giữa không gian bao la của buổi hoàng hôn tịnh vắng.

Bình khẽ dịch người về phía đầu ngọn gió, kéo vạt áo trấn thủ lót bông dày dặn che kín cho đứa con trai nhỏ đang say giấc nồng trong bọc chăn len màu xanh. Bàn tay to bè, ram ráp những vết chai sần của anh vẫn không quên đan chặt lấy những ngón tay thon nhỏ của vợ. An tựa nhẹ đầu vào bờ vai vững chãi của chồng, mắt dõi nhìn xuống toàn cảnh làng An Hòa trải dài tít tắp dưới chân đê.

Mới ba năm thôi mà ngỡ như đã đi qua trọn một kiếp người.

Trong tâm trí An, ký ức của những ngày đầu đông năm 1976 bỗng chốc ùa về rõ mồn một như một cuốn phim quay chậm. Ngày ấy, khi tâm thức của một nữ kỹ sư nông học thế kỷ hai mươi mốt bất ngờ tỉnh dậy trong thân xác gầy gò, xanh xao của cô thanh niên xung phong phục viên, thứ đón nhận cô là căn buồng ẩm mốc tối tăm, là tiếng gió rít qua những khe vách đất nứt nẻ và cái đói cồn cào thấu ruột gan của vụ giáp hạt. Những bữa cơm độn sắn củ mục đắng ngắt, mớ rau dại luộc chấm nước tương nhạt thếch, những cuốn sổ mua bán rách mép cùng ánh mắt âu lo của người mẹ già bên ngọn đèn dầu tù mù… Tất cả từng đè nặng lên mảnh đất này như một gánh nợ vô hình của thời cuộc.

Thế nhưng giờ đây, bức tranh nghèo nàn xác xơ thuở nào đã hoàn toàn thay da đổi thịt. Từ trên mặt đê nhìn xuống, xóm Chùa, xóm Trại không còn là một vệt rơm rạ xám xịt ủ rũ dưới làn mưa phùn. Xen giữa những tán nhãn, rặng xoan khẳng khiu đón đông là hàng chục mái ngói sông Cầu đỏ au vừa mới dựng, phẳng phiu và kiên cố. Dưới chân đê, bãi Soi – dải đất từng bị coi là bãi tha ma sỏi đá hoang vu ngập mặn – nay đã được cày lật lớp đất ải màu mỡ, những luống ngô đông xanh mướt mát đan cài cùng hàng đậu tương trĩu quả đang vươn mình trong sương lạnh. Khói lam chiều từ những gian bếp ấm no bắt đầu bốc lên nghi ngút, mang theo hương thơm ngọt ngào, đậm đà của nồi bánh chưng đỏ lửa và mùi cơm gạo mới dẻo quánh, lan tỏa khắp ngõ xóm bình yên.

“Nghĩ gì mà trầm ngâm thế mình?”

Giọng nói trầm ấm của Bình kéo An trở về với thực tại. Anh cúi xuống nhìn cô, khóe mắt cương trực ánh lên nét cười dịu dàng vô bờ. Dù chân trái vẫn còn hơi khập khiễng bởi mảnh đạn năm xưa nơi chiến trường Tây Nam, nhưng dáng đứng của người cựu binh ấy lúc nào cũng sừng sững như một cây lim già bám rễ sâu vào lòng đất mẹ.

An khẽ chớp mắt, nén lại niềm xúc động đang dâng lên nghẹn ngào nơi cuống họng. Cô đưa tay vuốt nhẹ gò má phúng phính, hồng hào của bé Bình An, khẽ thì thầm:

“Em đang nhớ lại ngày đầu tiên ra bãi Soi làm cỏ cùng anh. Khi ấy, bùn ngập đến bắp chân, đói hoa cả mắt, ai cũng bảo vợ chồng mình ôm rơm rặm bụng, chuốc lấy cái vạ xé rào… Không ngờ mới đó mà chúng ta đã đi được tới tận ngày hôm nay.”

“Là nhờ có em.” Bình nhìn sâu vào đôi mắt sáng ngời của vợ, giọng anh trầm xuống, chất chứa tất cả sự nâng niu và kính trọng trút ra từ đáy lòng. “Nếu không có tri thức của em, không có sự kiên trì nhẫn nại của em chỉ bảo từng cách ủ phân men vi sinh, cách khử chua đất bãi, rồi thức trắng bao đêm canh lò sấy thóc giống… thì anh dẫu có ba đầu sáu tay, có liều mạng đến mấy cũng chẳng thể đưa bà con Đội 3 qua nổi những mùa giáp hạt thắt ruột thắt gan ấy.”

An mỉm cười lắc đầu. Cô hiểu, tri thức khoa học dẫu có tân tiến đến đâu, nếu không được gieo vào mảnh đất của lòng dũng cảm, của sự chở che và đức hy sinh vô điều kiện như tấm lưng trần chắn đá rơi của Bình, như sự đùm bọc trọn nghĩa vẹn tình của bà con xã viên An Hòa, thì những hạt mầm ấy cũng sẽ sớm chết yểu giữa phong ba bão táp của định kiến và cơ chế nghiệt ngã. Cô không còn là một kẻ lữ hành cô độc lạc loài từ tương lai nữa; từng thớ thịt, từng giọt mồ hôi, từng hơi thở của cô đã thực sự hòa quyện làm một với mảnh đất và con người nơi đây.

Gió sông Đáy bỗng thổi mạnh hơn một cơn, mang theo cái rét ngọt ngào của đêm trừ tịch.

Bình cẩn thận chuyển bọc con sang tay trái, tay phải anh khẽ thò vào túi trong của chiếc áo trấn thủ quân nhu. Những ngón tay thô ráp lần giở một vật nhỏ được bọc cẩn thận trong mảnh vải dù hoa rừng.

“An này.”

An ngước lên, thấy trên lòng bàn tay mở rộng của chồng là một chiếc kẹp tóc bằng vỏ đạn pháo sáng loáng. Vỏ kim khí màu đồng thau lấp lánh dưới ráng chiều muộn, mép kẹp được mài giũa tỉ mỉ, trơn nhẵn đến từng đường gân nhỏ, phần đuôi còn được anh khéo léo khắc chìm hai chữ cái “B - A” lồng vào nhau bên cạnh một nhành lúa trĩu hạt.

Đó chính là kỷ vật anh đã trao cho cô vào đêm trăng rằm tháng Tám năm 1977, ngay sau chiến dịch hộ đê bão lốc bến đò sông Đáy. Suốt hai năm qua, chiếc kẹp tóc ấy luôn cài trên mái tóc thề của cô, cùng cô trải qua những ngày dầm mưa dãi nắng nơi đồng bãi, những phen thót tim trước các đợt kiểm tra xét hỏi gắt gao. Mấy hôm trước, thấy then kẹp hơi lỏng và nước đồng bị xỉn màu vì hơi mồ hôi, anh đã lặng lẽ mượn giũa sắt của tổ cơ khí, đêm đêm cặm cụi ngồi bên bệ cửa đánh bóng lại từng li từng tí.

“Hôm nay gió to, tóc em bay nhiều quá.” Bình mỉm cười, giọng run run đầy xúc động.

Anh cẩn thận nâng một lọn tóc mây đen dày của vợ, nhẹ nhàng cài chiếc kẹp bằng vỏ đạn pháo vào nếp bím lệch thân quen. Đầu ngón tay ấm nóng của anh khẽ lướt qua vành tai mềm mại của An, khiến cả người cô dâng lên một luồng nhiệt ấm áp, xua tan đi cái lạnh căm căm của chiều đông.

“Ba năm trước ở chính khúc đê này, anh đã hứa với lòng mình rằng dẫu có phải đổi cả mạng sống, cũng phải giữ cho em một mái nhà yên ấm, không để em phải chịu thêm một ngày đói rét nào nữa.” Ánh mắt Bình sáng lên một ngọn lửa chân thành, nồng đượm. “Hôm nay, trước mặt con trai chúng mình, trước dòng sông Đáy và vong linh tiên tổ, anh muốn nói lại lời ấy… Cả đời này, Trần Bình tôi chỉ có một người vợ duy nhất là Nguyễn Hoài An. Gian khổ nào anh cũng gánh, bão giông nào anh cũng che, trọn đời trọn kiếp không bao giờ phụ rẫy.”

Nước mắt An trào ra, nóng hổi lăn dài trên đôi gò má rám nắng. Cô không nói được thành lời, chỉ biết siết chặt lấy cánh tay rắn rỏi của chồng, nép sát vào vòm ngực rộng lớn phập phồng sau lớp vải bông thô ráp. Giữa đất trời bao la chuẩn bị chuyển mình sang một thập kỷ mới, lời thề mộc mạc của người lính thương binh ấy nặng tựa thái sơn, vững chãi hơn bất kỳ vàng ngọc son phấn nào trên cõi đời này.

Thằng bé Bình An trong bọc chăn dường như cảm nhận được hơi ấm của bố mẹ, nó cựa mình khe khẽ, chu chiếc miệng nhỏ xíu ngáp một cái thật dài rồi lại rúc sâu vào ngực bố, thiu thiu ngủ tiếp.

“Kìa mình, u và các bác đang đợi ở nhà đấy. Ta về thôi kẻo sương xuống lạnh buốt con.” An quệt vội giọt nước mắt hạnh phúc, khẽ giục.

“Ừ, về thôi em. Bữa cơm tất niên gạo mới đang chờ cả nhà rồi.”

Hai vợ chồng sóng bước bên nhau thong thả bước xuống triền đê. Con đường đất trơn trượt lầy lội ngày nào giờ đã được nhân dân Đội 3 rải một lớp gạch vỡ và xỉ than nung cứng cáp, bước chân dẫm lên vang lên những tiếng lạo xạo giòn giã.

*

Cổng ngõ nhà Bình và An tối nay sáng rực bởi ánh đèn dầu hỏa và bếp lửa hồng bập bùng. Cánh cổng tre đơn sơ thuở trước nay đã được thay bằng đôi cánh gỗ xoan đào bào nhẵn, bên trên treo một cành đào phai chú thím Đượm vừa xin trên mạn rừng Kim Bôi về, những nụ hoa hồng phớt đang chúm chím ngậm sương, chực chờ khoe sắc đón giao thừa.

Ngôi nhà ba gian lợp mái ngói sông Cầu đỏ tươi hiện ra sừng sững giữa mảnh vườn tươi tốt. Nhờ thiết kế đối lưu không khí và lớp móng lót xỉ than chống ẩm do An tính toán, bên trong nhà khô ráo, ấm sực, thoang thoảng mùi vôi mới quyện với hương thơm tinh khiết, ngan ngát của nồi nước lá mùi già đang sôi sùng sục trên chiếc kiềng sắt góc sân.

“A, vợ chồng thằng Bình đã về đấy à! Mau vào nhà đi con, ngoài đê gió máy thế mà đem thằng bé đi lâu, khéo nó nhiễm lạnh thì khổ!”

Bà cụ Mẫn từ trong gian bếp tất tả bước ra, trên tay vẫn cầm chiếc muôi gỗ thơm nồng mùi măng hầm. Dưới ánh sáng vàng óng của ngọn đèn măng-xông treo giữa xà nhà, nụ cười rạng rỡ làm bừng sáng khuôn mặt nhăn nheo của người mẹ già. Hàm răng đen nhánh hạt huyền lấp lánh sau bờ môi nhai trầu đỏ thắm, lưng u dường như đỡ còng hơn, từng bước đi thoăn thoắt tràn đầy sinh khí của người vừa trút bỏ được gánh nặng sinh nhai đè trĩu cả một đời.

Bình vội bước tới, đỡ lấy mẹ: “U đừng lo, con bọc kín cháu trong chăn len Hải Phòng rồi, người nó ấm ran như hòn than ấy.”

“Đưa đây, đưa thằng cháu đích tôn của bà đây nào!” Cụ Mẫn đón lấy bọc chăn nhỏ, ôm ấp vào lòng như ôm cả kho báu trời cho, miệng không ngớt nựng nịu: “Bình An của bà ngoan nhé, hôm nay cả làng ăn mừng cơm mới, mừng nhà mới cho cháu đấy!”

Bước vào gian giữa, An thấy gian nhà ba gian hôm nay chật ních người và đầy ắp tiếng cười nói rộn rã.

Trên bộ tràng kỷ bằng tre ngà đánh bóng bằng lá chuối khô, cụ giáo Khiêm – cha của An – đang ngồi đĩnh đạc trong bộ áo the khăn xếp màu đen chỉnh tề. Cụ nhấp một ngụm trà mạn mộc móc câu thơm ngát, tay vuốt chòm râu bạc rung rinh theo từng nụ cười khoan thai. Đối diện với cụ là Chủ nhiệm Bùi Đắc Khoát. Vị chủ nhiệm từng một thời khét tiếng giáo điều, nguyên tắc nay cởi bỏ chiếc áo đại cán bốn túi cứng nhắc, chỉ mặc chiếc áo len cổ lọ màu ghi giản dị, chiếc bút máy Kim Tinh cài ngay ngắn bên ngực áo. Gương mặt ông giãn ra, đôi mắt hằn sâu những vết chân chim của bao đêm mất ngủ lo toan giờ đây ánh lên niềm thanh thản, tự hào khôn xiết.

“Báo cáo cụ giáo, báo cáo anh Khoát, vợ chồng cháu mới về ạ.” Bình kính cẩn cất tiếng chào.

“Vào đây, vào đây cả hai đứa!” Ông Khoát vỗ đùi đánh đét một cái, hào sảng cất giọng: “Vừa hay bác đang khoe với cụ giáo bức công điện của Tỉnh ủy gửi về chiều nay. Mô hình khoán bãi Soi của Đội 3 xã ta không những được biểu dương toàn diện, mà đồng chí Bí thư Tỉnh ủy còn lấy đúng số liệu của cô An để làm báo cáo điển hình gửi thẳng lên Thường vụ Trung ương Đảng đấy! Cả đời làm cách mạng, làm chủ nhiệm của tôi, chưa bao giờ thấy cây lúa, cọng ngô xứ này nở mày nở mặt đến thế!”

Cụ giáo Khiêm mỉm cười đôn hậu, ánh mắt nhìn con gái ngập tràn niềm tự hào: “Nhân hòa thì địa lợi, địa lợi ắt sinh vật thịnh. Cái gốc của mùa màng không nằm ở chỉ tiêu trên giấy, mà nằm ở giọt mồ hôi và lòng dân đồng thuận. Anh Khoát nhận ra điều đó, lại có vợ chồng thằng Bình con An hết lòng vì tập thể, ấy là phúc ấm của cả làng ta.”

Ở góc nhà bên kia, một tràng cười giòn giã như ngô rang bỗng nổ tung.

“Ối dào ôi, các bác cứ văn vẻ câu chữ mãi! Bữa nay là tất niên, là phải ăn cho đẫy nang, uống cho đẫy chén để tống tiễn cái đói cái khổ đi chứ!”

Chị Đượm từ dưới bếp bê lên một chiếc mâm đồng sáng loáng, vừa đi vừa liến thoắng. Thân hình đẫy đà, phốp pháp của chị lắc lư theo từng nhịp bước, trên khuôn mặt tròn xoe phúc hậu mồ hôi lấm tấm nhưng nụ cười thì rạng rỡ như hoa nở ban mai. Đi ngay sau chị là anh Cán.

Người thương binh kiên cường của mặt trận Pò Hèn nay mặc bộ quân phục Tô Châu mới toanh không mang quân hàm. Dù cẳng chân trái bị cưa cụt đến đầu gối, phải chống chiếc nạng gỗ nghiến kêu cọt kẹt theo từng bước chân, bàn tay phải cũng mất đi hai ngón vì đạn pháo, nhưng lưng anh vẫn thẳng tắp, đôi mắt sáng quắc ngời ngời khí chất bộ đội cụ Hồ. Anh dùng cánh tay lành lặn xách một âu đất nung bốc khói nghi ngút, miệng tươi cười phụ họa với vợ:

Đăng nhập để thả tim Đăng nhập để tương tác

Ủng hộ tác giả ai4
Mỗi lời động viên là động lực để tác giả tiếp tục sáng tác.

ai4

Tác giả của câu chuyện này · Hãy cùng ủng hộ những chương tiếp theo.

Đăng nhập để theo dõi

Bình luận chương 0

Đăng nhập để tham gia bình luận.

Đang tải bình luận…