Xuyên không thập niên 70
Chương 49: Hạt lúa hồi sinh
Trong gian buồng hộ sinh nồng đượm mùi thuốc sát trùng và hơi ấm của chậu than củi ủ kín dưới gầm, Hoài An nằm bất động trên mép dát tre của chiếc giường bệnh đơn sơ. Tấm chiếu cói trải bên dưới đã sờn mép, ráp ráo cọ vào lưng áo bảo hộ ướt đẫm mồ hôi của cô. Trải qua một đêm vượt cạn kinh hoàng giữa cơn áp thấp nhiệt đới làm rung chuyển cả mái ngói trạm xá, từng thớ thịt trên người An như rã rời, xương chậu ê ẩm buốt nhức từng cơn. Nhưng nỗi đau đớn thể xác ấy dường như chẳng thấm tháp vào đâu so với niềm hạnh phúc ngọt ngào đang dâng trào trong lồng ngực: con trai cô đã bình an chào đời.
Bình vừa ôm bọc tã đỏ au sưởi ấm cho con bước ra phía cửa hiên để đón ngọn gió mát lành sau mưa bão. An nằm nghiêng đầu sang một bên, ánh mắt dõi theo bóng lưng cao lớn, vạm vỡ của chồng đang in đậm trên nền trời rạng đông bên ngoài khung cửa sổ chấn song gỗ tróc sơn.
Bỗng nhiên, từ ngoài con ngõ đất dẫn vào trạm xá, một âm thanh lạ lùng dội tới.
“Cộp... cộp...”
Tiếng gỗ khô đập xuống nền gạch ẩm ướt vang lên từng nhịp ngập ngừng, nặng nhọc nhưng vô cùng kiên định. Âm thanh ấy như từng nhát búa nện thẳng vào bầu không khí tĩnh mịch của buổi sớm mai.
An khẽ nhíu mày, căng tai lắng nghe. Qua khung cửa sổ mở hé, cô thấy bóng lưng Bình bỗng khựng lại ở bậu cửa, đôi vai anh căng cứng như một pho tượng đá.
“Anh... anh Cán?”
Giọng Bình thốt lên, run rẩy và khàn đặc như vỡ vụn giữa khoảng không gian vừa dứt hạt mưa.
Ngay sau tiếng gọi thảng thốt ấy, từ góc gian nhà trong, tiếng bát sứ rơi xuống nền gạch vỡ toang đánh “xoảng”. An giật mình nhìn sang. Chị Đượm – người vừa xuống bếp trạm xá bưng bát cháo hoa nghi ngút khói lên cho cô tẩm bổ – đang đứng chôn chân nơi ngưỡng cửa thông gió. Hai cánh tay thô ráp của chị buông thõng giữa trời, đôi mắt tròn xoe mở lớn đến mức dại đi, nhìn trân trân qua bờ vai của Bình hướng ra ngoài cổng.
“Mình ơi... Có phải mình thật không... hay là hồn ma mình hiện về...”
Tiếng thì thào của chị Đượm mỏng manh như làn khói, rồi đột ngột vỡ òa thành một tiếng thét nghẹn tắc nơi cổ họng. Chị lảo đảo lao qua bậc cửa, bước chân quýnh quáng trượt ngã dúi dụi xuống khoảng sân gạch rêu phong vừa ráo nước mưa. Chị không buồn gượng dậy mà cứ thế bò nhoài tới, hai bàn tay lấm lem bùn đất bấu chặt lấy một thân người đang đứng tựa vào chiếc nạng gỗ thô sơ bên hiên.
Từ giường bệnh, An rướn người nhìn qua chấn song. Đập vào mắt cô là một bóng hình gầy gộc trong chiếc áo trấn thủ bạc phếch, loang lổ những vệt ố màu thuốc sát trùng vàng khè. Chiếc ba lô cóc quân nhu lép kẹp trễ xuống một bên vai áo đã sờn rách. Và điều làm thắt nghẽn lồng ngực An chính là ống quần bên trái của người lính ấy: nó được gấp gọn gàng, thắt nút lơ lửng ngang gối, để lộ một khoảng trống tê tái lòng người.
Chị Đượm gục đầu vào phần đầu gối cụt của chồng, đôi vai mập mạp rung lên bần bật trong từng cơn nấc xé ruột xé gan:
“Trời phật ơi! Còn sống... Mình còn sống mà về với bu con em rồi! Cụt một chân cũng được, tàn phế cũng được, miễn là mình còn thở... Mình ơi là mình ơi!”
“Tôi về rồi... Đồn Pò Hèn anh em nằm lại nhiều lắm... Nhưng tôi nhớ bu con mình, tôi bò qua bãi mìn, bò về trạm phẫu... Tôi giữ được cái mạng này về cày bừa nuôi bu con mình rồi...”
Tiếng anh Cán nghẹn ngào, bàn tay chai sần run rẩy vuốt ve mái tóc khét mùi rơm rạ của người vợ tào khang. Một bên nạng gỗ buông rơi đánh cạch xuống sân, cả thân hình người thương binh đổ sụp xuống, ôm ghì lấy chị Đượm trong bùn đất và nước mắt.
Nằm trong gian buồng ấm, An cắn chặt môi để ngăn tiếng nấc chực trào ra. Nước mắt cô ứa ra, lăn dài qua khóe mắt thấm ướt vạt chiếu cói. Chiến tranh biên giới phía Bắc khốc liệt dường nào, sự hy sinh của những người lính nơi phên dậu Tổ quốc lớn lao dường nào, tất cả đều hiển hiện trần trụi ngay trước mắt cô qua đôi nạng gỗ và ống quần thắt nút kia. Nhưng trên hết, người lính ấy đã sống sót trở về. Quê hương và nghĩa tình mộc mạc của người phụ nữ nông thôn Bắc Bộ đã đón anh về trong vòng tay bao dung trọn vẹn.
“Vào đây... Vào trong buồng với mẹ con cô An đã, anh Cán, chị Đượm ơi!”
Tiếng Bình cất lên đầm ấm phá vỡ cơn xúc động nghẹn ngào ngoài sân. Anh trao bọc tã con trai cho bà cụ Mẫn đang đứng cạnh cột hiên gạt nước mắt, rồi một tay xốc nách anh Cán, một tay đỡ chị Đượm đứng dậy.
An vịn tay vào mép dát tre của giường bệnh, nén cơn đau âm ỉ ở vết rạch dạ con, gượng chống người tựa lưng vào vách tường vôi tróc lở để đón khách.
Bình dìu anh Cán bước qua bậc cửa. Khi người thương binh khập khiễng bước vào phòng, luồng gió sớm mang theo mùi khói súng dường như vẫn còn phảng phất đâu đây, hòa quyện với mùi sữa non thơm ngát của gian buồng sản phụ. Nhìn thấy An trên giường bệnh, gương mặt nhợt nhạt nhưng ánh mắt sáng ngời vẻ kiên cường, rồi nhìn sang chiếc nôi tre lót rơm nếp bên cạnh, anh Cán run rẩy buông tay nạng, quệt vội giọt nước mắt trên gò má hốc hác chằng chịt vết sẹo.
“Cô An... Chúc mừng cô chú... Thằng bé trộm vía khôi ngô quá, vầng trán rộng hệt như bố nó...” Bàn tay cụt mất hai ngón của anh Cán ngập ngừng giữa không trung, dường như sợ lớp da chai sần sương gió làm xước làn da đỏ au của đứa trẻ.
An mỉm cười, chủ động đưa bàn tay ấm áp của mình đón lấy bàn tay người lính biên cương, nhẹ nhàng đặt nó lên mép tã lót của con trai:
“Anh Cán về là phúc lớn của cả làng, của chị Đượm, anh ạ. Chân anh bị thương, nhưng bàn tay anh còn nguyên vẹn, khối óc anh còn sáng. Về đến An Hòa rồi, bãi Soi vụ này được mùa lớn lắm, lúa gạo không thiếu, việc hợp tác xã không thiếu. Vợ chồng em và cả Đội 3 sẽ cùng anh chị gánh vác, tuyệt đối không để anh phải chịu thiệt thòi một ngày nào nữa.”
Chị Đượm đứng tựa vào vai chồng, nước mắt giàn giụa nhưng nụ cười rạng rỡ đã bừng nở trên khuôn mặt tròn phúc hậu: “Cô An ơi... Đời chị ơn cô chú không biết chừng nào mà kể. Thằng bé Bình An này sinh ra đúng ngày lành tháng tốt, mang lại cái phúc lớn cứu sống cả nhà chị...”
Đứa bé trong nôi khẽ cựa mình, đôi bàn tay nhỏ xíu huơ huơ vào khoảng không ấm áp rồi lại chép miệng ngủ tiếp. Ngoài hiên trạm xá, ánh nắng vàng hanh của buổi sớm mùa thu bắt đầu rọi qua những tán bàng đỏ ối, rải lên nền đất phù sa một sắc vàng ấm áp. Nỗi nhọc nhằn của đêm bão, nỗi đau của chiến tranh dường như đang lùi dần về phía sau, nhường chỗ cho những mầm sống hồi sinh kiên cường.
*
Thời gian thấm thoắt thoi đưa như dòng nước sông Đáy cuộn chảy phù sa bồi đắp đôi bờ.
Chưa đầy một tháng sau ngày An vượt cạn, tiết trời miền Bắc chuyển dần sang đầu đông. Những cơn gió heo may se lạnh thổi rười rượi trên các ngọn tre ngà đầu làng An Hòa, mang theo cái rét ngọt đầu mùa đặc trưng của châu thổ Bắc Bộ. Nhờ sự chăm sóc chu đáo của u Mẫn với những nồi nước lá bưởi lá sả xông ấm, những bát cháo gạo nếp hầm móng giò giã nhuyễn hạt sen khô, sắc mặt An nhanh chóng hồng hào trở lại. Thằng bé Bình An nết ăn nết ngủ rất ngoan, hai má phúng phính trắng trẻo, cái miệng cười toe toét mỗi khi nghe tiếng chuông lắc bằng vỏ đạn đồng của bố đung đưa trên nôi.
Thế nhưng, điều làm rúng động cả vùng quê An Hòa cuối năm 1979 không chỉ là tiếng khóc chào đời của đứa trẻ, mà là một mùa gặt chưa từng có trong lịch sử nửa thế kỷ qua.
Đồng bãi Soi và toàn bộ cánh đồng chiêm trũng của xã An Hòa bước vào vụ thu hoạch rộ. Mô hình khoán gọn theo nhóm hộ gia đình mà Bình và An dũng cảm “xé rào” thử nghiệm – sau khi được Trưởng phòng Nông nghiệp huyện Đặng Cự đỡ đầu và bảo vệ trước Huyện ủy – nay đã được Chủ nhiệm Bùi Đắc Khoát mạnh dạn cho phép nhân rộng ra toàn bộ ba đội sản xuất.
Từ tờ mờ sáng, khi sương mù còn bảng lảng như dải lụa trắng giăng ngang triền đê, tiếng kẻng đồng từ ngọn cây đa đầu làng đã vang lên từng hồi giòn giã. Không còn cảnh “đánh trống ghi tên, xuất quân tập thể” uể oải, lờ đờ như những năm trước; không còn những người đứng tựa cán cuốc hút thuốc lào vặt, nhìn đồng hồ chờ hết giờ để chấm công điểm A, công điểm B. Khắp các ngả đường ra đồng, tiếng cười nói râm ran, tiếng gọi nhau í ới làm bừng tỉnh cả một vùng quê lam lũ.
Sáng hôm ấy, An quấn chiếc khăn len xanh ấm áp ngang cổ, tay dắt chiếc xe đạp Thống Nhất cũ, cùng Bình chậm rãi bước lên mặt đê nhìn xuống cánh đồng bãi Soi.
Dưới lăng kính của một kỹ sư nông nghiệp, An không giấu nổi niềm xúc động khi thu trọn vào tầm mắt một biển vàng rực rỡ trải dài ngút ngát đến tận mép nước sông Đáy. Những bông lúa giống mới được tuyển chọn và ủ mầm bằng quy trình vi sinh đối lưu nhiệt kỹ lưỡng trĩu nặng hạt, uốn cong như những chiếc lưỡi liềm vàng ruộm. Cả một thảm lúa dày đặc, đều tăm tắp, thân cây cứng cáp đứng vững trước những đợt gió đông đầu mùa, tuyệt nhiên không hề có dấu vết của rầy nâu hay bệnh bạc lá.
Dưới ruộng, hàng trăm xã viên thoăn thoắt vung liềm. Tiếng “xoàn xoạt... xoàn xoạt...” của những lưỡi thép sắc ngọt cắt qua gốc rạ khô giòn hòa cùng tiếng hát ví von, tiếng trêu đùa của đám trai gái rộn rã cả góc trời.
“Kìa, cô An! Chú Bình!”
Chị Đượm từ dưới ruộng ngẩng lên, chiếc nón mê phe phẩy trên tay, vạt áo nâu ướt đẫm mồ hôi nhưng gương mặt rạng ngời như bắt được vàng. Chị chỉ tay vào những gánh lúa cao ngất ngưởng đang được dồn lên bờ đê:
“Lúa năm nay mẩy hạt từ chân gié đến ngọn bông cô An ơi! Tôi làm ruộng ba mươi năm có lẻ, chưa từng thấy vụ nào hạt thóc bấm vào nghe giòn đanh như vụ này! Ruộng nhà tôi khoán hai sào bãi Soi, cắt mới được một nửa mà đã xếp chật bốn bồ to rồi! Vụ này tha hồ mà ăn cơm trắng, không phải sắn củ độn bo bo nữa rồi!”
Cách đó không xa, bên bờ mương dẫn nước, anh Cán đang ngồi trên một chiếc ghế gỗ ba chân tự đẽo. Mất một chân trái, anh vẫn dùng chân phải khỏe khoắn đạp đều từng nhịp vào chiếc bàn đạp của máy tuốt lúa cải tiến mà An đã vẽ kiểu cho xưởng rèn của xã. Tiếng guồng quay ro ro cuốn những bông lúa vào trong, hạt thóc rụng rào rào như mưa mùa hạ xuống tấm bạt trải phẳng phiu.
“Đúng là hạt vàng hạt ngọc cô An ạ!” Anh Cán cười ha hả, hàm răng sún khói thuốc lào ánh lên niềm vui sướng tột cùng: “Sức tàn phế của tôi mà mỗi ngày tuốt được cả tạ thóc thế này, công điểm vẫn đủ, lúa vượt khoán lại được mang về nhà. Vợ chồng tôi đội ơn cô chú suốt đời!”
Bình đứng bên cạnh An, bàn tay to lớn, ấm áp của anh khẽ siết nhẹ lấy bờ vai thon thả của vợ. Anh nhìn cánh đồng ngút ngàn, rồi lại nhìn vào đôi mắt trong veo của An, ánh mắt chan chứa sự khâm phục vô bờ:
“An này... Em có nghe thấy không? Đó là tiếng reo vui của đất, của lúa, và của lòng người đấy. Nếu không có những đêm em thức trắng bên ngọn đèn dầu nghiên cứu men vi sinh ủ phân xanh từ rơm rạ, nếu không có cái ngày em kiên quyết giữ lại từng hạt giống trong kho... thì An Hòa hôm nay làm sao có được cảnh tượng này.”
An mỉm cười, tựa đầu vào cánh tay vững chãi của chồng, khẽ lắc đầu: “Không phải chỉ nhờ một mình em đâu anh. Khoa học mà không có mồ hôi của anh, không có bàn tay chai sần của bà con Đội 3 và sự dũng cảm dám đứng mũi chịu sào của chú Khoát, thì tất cả cũng chỉ nằm lại trên những trang giấy úa vàng mà thôi. Chính sức lao động thật lòng của mọi người mới làm nên sự hồi sinh của hạt thóc.”
Giữa lúc không khí thu hoạch đang ở đỉnh điểm náo nức, từ phía đầu đường liên xã bỗng vang lên tiếng động cơ xe ô tô ròn rã. Hai chiếc xe – một chiếc com-măng-ca mui bạt và một chiếc U-oát màu xanh rêu phủ đầy bụi đường – rẽ qua rặng tre ngà, đi thẳng xuống lối dẫn ra đồng bãi Soi.
Bà con xã viên đồng loạt dừng tay liềm, ngơ ngác nhìn nhau. Chủ nhiệm Bùi Đắc Khoát trong chiếc áo bốn túi màu cỏ úa, ngực cài chiếc bút máy Kim Tinh quen thuộc, đang lúi húi kiểm tra bờ mương vội vã chạy lại.

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…