Xuyên không thập niên 70
Chương 8: Nước dâng chân đê sông Đáy
Trận giông chiều hôm ấy chỉ là phát súng lệnh mở màn cho một cơn thịnh nộ kinh hoàng của đất trời.
Sang đến đầu tháng Tám năm 1977, hoàn lưu của cơn bão số ba quét qua đồng bằng Bắc Bộ, mang theo những túi mưa khổng lồ đổ ụp xuống đôi bờ sông Đáy. Suốt ba ngày ba đêm ròng rã, bầu trời Hà Sơn Bình như một tấm bạt rách nát, nước từ trên cao trút xuống xối xả, trắng trời trắng đất. Không còn phân biệt được đâu là ranh giới giữa ngày và đêm; chỉ có tiếng mưa quất ràn rạt trên những mái rạ mục, tiếng gió rít qua rặng phi lao ven sông nghe như tiếng quỷ khóc thần gào, và bóng tối nhớp nháp, lạnh buốt bao trùm khắp các nẻo đường làng An Hòa.
Nằm ở vùng trũng sát bờ sông, xã An Hòa oằn mình hứng trọn dòng nước lũ từ thượng nguồn Hòa Bình cuồn cuộn đổ về. Nước sông Đáy dâng lên nhanh đến mức rợn người. Mới chập tối hôm trước, mép nước còn mấp mé chân bãi ngô non, vậy mà đến nửa đêm, những vạt ngô bắp vừa ngậm sữa đã hoàn toàn biến mất dưới dòng phù sa đỏ quạch, đặc sệt rác rưởi, củi mục và xác súc vật trôi lềnh bềnh.
Con đê bối của xã — lá chắn mỏng manh bằng đất thịt pha cát được đắp từ bao đời nay để ngăn nước lũ tràn vào đồng chiêm và khu dân cư — bắt đầu rên xiết dưới sức ép nghìn cân của thủy thần.
Nửa đêm ngày thứ ba của đợt mưa lũ, Hoài An đang chong ngọn đèn dầu hạt đỗ ngồi khâu lại chỗ rách trên chiếc áo bông cũ của cụ Khiêm thì bất thình lình, chuỗi âm thanh xé toạc màn mưa dội thẳng vào gian nhà vách đất.
“Keng! Keng! Keng! Keng!... Toét... toét... toét!”
Tiếng kẻng báo động bằng vỏ bom đập liên hồi dồn dập, chát chúa, hòa lẫn tiếng còi đồng của đội dân quân trực ban rú lên từng hồi thảm thiết từ phía điếm canh đê đầu làng. Âm thanh báo động khẩn cấp ấy rơi vào đêm mưa như từng nhát búa nện thẳng vào lồng ngực người dân.
“Vỡ đê rồi! Làng nước ơi, mang cuốc xẻng ra cống Vực! Mạch đùn rồi!”
Tiếng thét thất thanh của ai đó lạc đi giữa tiếng mưa gầm. Ngay lập tức, xóm Trại bừng tỉnh trong nỗi kinh hoàng. Tiếng trẻ con giật mình khóc thét, tiếng lợn gà eng éc trong chuồng ngập nước, tiếng chân người giẫm bồm bộp trên bùn nhão và tiếng gõ cửa thình thình náo loạn khắp các ngõ ngách.
Cụ Khiêm ho sặc sụa, vội vã chống gậy nhỏm dậy, đôi mắt mờ đục thất thần nhìn ra sân:
“Trời ơi... cống Vực mà bục thì cả cái xã này chìm trong biển nước... Hỏng hết, mất hết rồi con ơi!”
“Thầy cứ ngồi yên trong nhà!” An dứt khoát ấn vai cha ngồi xuống phản. Đầu óc cô vận hành với tốc độ tối đa của một kỹ sư từng trải qua bao khóa huấn luyện cứu hộ thực địa. “U trông chừng thầy, cài chặt then cửa sổ, dọn bọc quần áo với ít gạo rang lên sàn gác bếp phòng khi nước dâng. Con ra đê tiếp ứng!”
Không kịp để mẹ rơi nước mắt ngăn cản, An vơ vội chiếc nón mê rách mép, khoác tấm áo tơi bện bằng lá cọ cồng kềnh, chụp lấy chiếc đèn bão vặn bấc to rồi lao mình ra màn mưa đen đặc.
Ngoài đường làng, bùn đất đã ngập quá mắt cá chân, quánh đặc và trơn như mỡ. Khắp nơi là những đốm lửa bập bùng của đuốc nứa ngâm dầu hỏa. Đàn ông, thanh niên vác cuốc, xẻng, đòn khiên; phụ nữ gồng gánh những bó cọc tre, bao tải dứa, rơm rạ mục cắm đầu cắm cổ chạy về hướng triền đê. Tiếng thở dốc, tiếng gọi nhau ơi ới hòa thành một bản hòa thanh hỗn loạn nhưng hừng hực tính mạng sinh tồn.
Tại ngã ba điếm canh, An gặp chị Đượm đang hớt hải gánh hai sọt rơm khô bọc nilon kín mít.
“An đấy hả? Nhanh lên em ơi!” Mặt Đượm tái mét dưới ánh đuốc bập bùng, giọng run rẩy vì lạnh và sợ. “Nước sông Đáy vượt mức báo động ba hơn nửa mét rồi! Chỗ cống Vực nước xoáy khoét sâu chân đê, đất lở từng mảng lớn. Chú Khoát chủ nhiệm hô toàn bộ thanh niên ra cắm cọc giữ chân đê, anh Bình dẫn đội xung kích nhảy xuống sông từ nửa tiếng trước rồi!”
Nghe đến tên Bình, lồng ngực An thắt nghẽn lại một nhịp đau nhói. Chân anh còn vết thương cũ! Mảnh đạn pháo chiến trường Tây Nam để lại một vết sẹo co rút sâu hoắm ở bắp chân trái, mỗi khi trái gió trở trời anh còn bước đi khập khiễng, làm sao có thể ngâm mình hàng giờ dưới dòng nước lũ buốt giá, cuồn cuộn phù sa bẩn thỉu ấy được?
“Chị Đượm, gánh rơm ra trước đi! Em tạt qua trạm xá dã chiến lấy đồ cứu thương rồi ra ngay!”
An rẽ vào gian nhà kho hợp tác ven chân đê — nơi Hội Phụ nữ và y tá xã vừa dựng tạm trạm tiếp tế. Cô không hề hoảng loạn mà nhanh chóng gom hết những thứ có thể cứu người trong điều kiện khan hiếm tột cùng của thời bao cấp: cồn đỏ sát trùng, mấy cuộn băng gạc đã giặt phơi nhiều lần, nắm lá thuốc lào dùng để bịt miệng vết thương cầm máu, và đặc biệt là hai nồi cháo hoa đặc quánh nấu với gừng già đập dập mà các bà mẹ đang hối hả nhóm bếp trấu thổi lửa.
Khi An cùng mấy chị em khiêng nồi cháo và túi cứu thương leo lên được đỉnh đê cống Vực, một cảnh tượng hãi hùng bày ra trước mắt.
Gió bão gầm rít như muốn bốc tung cả ngọn đê. Dưới ánh sáng nhập nhèm của mấy chục cây đuốc nứa và hai chiếc đèn măng-xông treo lủng lẳng trên cọc tre, dòng sông Đáy hiện lên như một con thủy quái khổng lồ hung tợn. Nước đỏ quạch phù sa, gầm gào sủi bọt trắng xóa, từng đợt sóng ngầu bọt chồm lên, đập thình thịch vào sườn đê bối, chỉ chực nuốt chửng lấy con trạch đất mỏng manh.
Ở khúc cua cống Vực, đất bờ đê phía ngoài sông đã bị khoét thành một hàm ếch sâu hoắm. Nguy hiểm hơn cả, dưới chân mái đê phía trong đồng, nước lũ bắt đầu rỉ qua các kẽ đất, tạo thành những “mạch đùn”, “mạch sủi” liên tục ùng ục phun lên từng vòi nước đục ngầu cát mịn. Đó là dấu hiệu tử thần: ruột đê đang bị xói mòn, chỉ cần vài chục phút nữa thôi, thân đê sẽ rỗng ruột và đổ sụp trong nháy mắt.
Trên mặt đê, Chủ nhiệm Bùi Đắc Khoát đầu trần ướt sũng, chiếc áo bốn túi dính bết vào người, tay cầm chiếc loa sắt tây gào rách cả họng:
“Đồng chí nào khỏe mạnh xuống đóng cọc tre! Chèn bao cát lại! Tuyệt đối không được lùi bước! Mất cống Vực là mất cả vựa lúa, mất danh hiệu xã điểm của huyện! Quyết tử giữ đê!”
Nhưng giữa dòng nước xoáy gầm thét dữ dội ngập quá thắt lưng, sức người dường như quá bé nhỏ. Những thanh niên xung kích lội xuống đều bị sóng đánh dạt vào bờ, chới với không cắm nổi cọc. Đúng lúc ấy, một bóng người vạm vỡ, cởi trần để lộ bờ vai rộng cuồn cuộn cơ bắp, đang đứng sừng sững giữa dòng nước xiết ngập ngang ngực.
Đó là Trần Bình.
Anh ngâm mình dưới dòng phù sa lạnh buốt, một tay ghì chặt lấy cây cọc tre đực ngâm già cùi to bằng bắp tay, một tay vung chiếc vồ gỗ lim nặng trịch. Nước lũ quất vào mặt anh từng chập bọt trắng xóa, bết những sợi tóc ướt đẫm vào vầng trán cương nghị.
“Anh em Đội 3! Nghe tôi!” Giọng Bình sang sảng, đanh gọn át cả tiếng gầm của sóng gió. “Đừng cắm cọc đơn lẻ, nước xô gãy hết! Kết ba cọc thành hình kiềng ba chân! Thả rồng rơm dằn đáy trước, đóng cọc sau! Thằng Hùng, thằng Thao ghì mép ngoài, tôi giữ chân cọc! Nện vồ theo nhịp còi của tôi!”
“Một... hai... Nện!”
“Chát... cộp!”
Chiếc vồ gỗ trong tay Bình giáng xuống dứt khoát. Cây cọc tre ngập sâu từng tấc vào lớp bùn đáy sông. Nước lũ chồm lên ngực anh, bọt nước bắn tung tóe. Bình nghiến răng ken két, từng thớ thịt trên cánh tay và lưng anh gồng lên như sắt nguội. Dưới làn nước đục ngầu, An không nhìn thấy nhưng cô biết chắc, đôi chân anh — đặc biệt là bên chân thương tật — đang phải cắm chặt xuống đáy bùn lún sụt trơn trượt để làm điểm tựa cho đồng đội.
Cứ mỗi nhịp vồ giáng xuống, thân hình Bình lại khẽ giật lùi vì phản lực và sự đau đớn. Những tảng đất sạt lở từ thân đê chốc chốc lại ụp xuống, bùn non quết đen nhẻm khắp khuôn mặt sương gió của anh.
An đứng trên bờ đê, hai bàn tay siết chặt lấy quai túi thuốc cứu thương đến trắng bệch. Tim cô thắt lại từng cơn, nhói buốt như có ai dùng kim châm muối xát. Người đàn ông ấy, người lính từng đi qua mưa bom bão đạn ở chiến trường, khi trở về làng quê vẫn luôn là người đầu tiên lao mình vào nơi hiểm nguy nhất, dùng chính da thịt của mình làm thành lũy chắn sóng cho bà con.
“Mau! Đưa rồng rơm xuống! Chèn thêm bao đất vào sau lưng đồng chí Bình!” Chủ nhiệm Khoát hét lớn, hoa chân múa tay chỉ trỏ.
Xã viên Đội 3 được sự chỉ huy và gương can trường của Bình làm cho vững dạ. Mấy chục thanh niên trai tráng hò dô nhảy ào xuống dòng nước, kết thành một bức tường người che chắn sóng. Những chiếc “rồng rơm” — rơm rạ bện chặt thành từng con cúi dài như con trăn khổng lồ nhồi đầy đất đá — được hàng chục cánh tay hợp lực lăn xuống mép sông để chặn dòng nước xoáy khoét chân đê.
Mưa vẫn như trút nước. Trên mặt đê, An không cho phép bản thân yếu lòng. Cô nhanh chóng phân công chị Đượm và các cô gái trong xóm:
“Chị Đượm, chia các chị ra làm hai nhóm! Nhóm một tiếp tục xúc đất vào bao tải dứa, nhớ trộn thêm rơm vụn để đất kết dính, không bị nước xói rửa trôi! Nhóm hai mang thùng nước gừng nóng và cháo ra sát mép đê, ai kiệt sức kéo lên phải cho uống ngay để chống trụy tim vì nhiễm lạnh!”
Bản thân An lao ngay xuống các vị trí có mạch đùn ở chân đê phía trong làng. Nhìn những lỗ sủi bọt đang đùn cát lên ùng ục, cô lập tức nhớ đến nguyên lý cân bằng áp lực thủy tĩnh trong công trình thủy lợi:
“Bác Khoát! Không được lấy đất bùn bịt kín lỗ rò mạch đùn!” An hét lớn gọi Chủ nhiệm Khoát khi thấy một nhóm xã viên đang hoảng hốt đổ cả xe bùn nhão vào miệng hố nước.
Ông Khoát trợn mắt, quát át đi:
“Cô An biết cái gì! Nước nó xì ra thì phải lấy đất đắp chặt lại chứ để nó phá toang đê à?”
“Lấy đất bịt chặt, áp lực nước ngầm không thoát được sẽ phá bục cả mảng đê phía sau!” An dứt khoát giằng lấy chiếc xẻng sắt, giọng cô đanh thép, bình tĩnh đến lạ thường giữa cơn hoảng loạn. “Phải làm tầng lọc ngược! Đổ đá dăm hoặc rơm rạ rải xuống đáy lỗ đùn trước, sau đó chèn bao cát sỏi lên trên tạo thành một cái giếng bao quanh! Để nước trong chảy tràn ra ngoài nhưng giữ hạt cát, hạt đất lại trong ruột đê! Giữ được cát là giữ được đê!”
Mấy bác nông dân có kinh nghiệm trị thủy lâu năm nghe An nói vanh vách, nhìn lỗ rò quả nhiên sau khi bị bịt bùn lại phình to hơn ở vị trí bên cạnh, liền gật đầu lia lịa:
“Đúng đấy bác Khoát ơi! Kinh nghiệm cha ông ngày xưa gọi là 'đắp giếng đón mạch' đấy! Con bé An nó nói chí phải!”
Chủ nhiệm Khoát ngớ người, nhìn làn nước đang xì mạnh dưới chân, đành vung tay:
“Được rồi! Nghe cô An! Gom hết rơm rạ với sọt tre lại đây làm giếng đón mạch!”

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…