Xuyên không thập niên 70

Chương 7: Sức sống trên luống đất 5%

Gió bấc sau đêm tràn về đã bắt đầu thổi cạn kiệt những giọt sương mai cuối cùng còn đọng trên tàu lá chuối ngự xơ xác ngoài hiên. Cái lạnh cuối đông hanh hao, se sắt như dao cứa vào da thịt người nông dân đồng bãi. Sau hôm cùng Bình gồng mình thồ bao muối mười lăm cân và xấp vải thô mậu dịch từ huyện về, đôi vai An hãy còn ê ẩm, nhưng tinh thần cô lại sảng khoái đến lạ kỳ.

Sáng sớm, trong gian bếp đắp đất vách trát rơm bùn của gia đình cụ giáo Khiêm, khói củi ướt bốc lên cay xè hai khóe mắt. Bữa điểm tâm của cả nhà chỉ vẻn vẹn có ba củ khoai lang khô luộc cùng một bát canh rau dền dại nấu suông với chút muối mậu dịch trắng tinh vừa đổi được hôm qua. Dù đạm bạc, nhưng hạt muối mặn mòi nguyên chất không lẫn cát bẩn đã khiến bát nước canh trở nên đậm đà, xua đi phần nào vị chát đắng của những ngày đứt bữa.

Cụ Khiêm vừa húp xong nửa bát canh, ngực lại phát ra tiếng rên ran sít sao quen thuộc. Cụ đặt chiếc bát sành sứt sẹo xuống chõng tre, đưa vạt áo bông trần đã rách lộ cả sợi bông ố vàng lên che miệng ho rũ rượi.

“Thầy cứ ngồi nghỉ, để đấy lát con dọn.” An đỡ lấy lưng cha, khẽ vuốt dọc sống lưng gầy guộc nhô từng đốt xương sườn của cụ. “U chốc nữa sang đội mẫu giáo trông trẻ, con xin phép đội trưởng Bình sáng nay cho con ở nhà làm bù công điểm buổi chiều, con muốn dọn lại mảnh vườn sau nhà.”

Bà Khiêm đang ngồi têm trầu bên bậu cửa, nghe con gái nói vậy thì dừng tay, ánh mắt đượm vẻ ái ngại:

“Vườn tược sau nhà mình có được hơn sào đất phần trăm, nhưng toàn là đất bạc màu, đất chết đấy con ơi. Mấy năm trước u với thầy mày cũng đổ mồ hôi cày xới, tra ngô thì ngô bắp lép kẹp bằng ngón chân cái, gieo cải thì bọ nhảy nó ăn trụi trơ cọng. Đất chua phèn lại rắn như đá cuội, mùa mưa thì nước ứ thối rễ, mùa rét thì nẻ toang hoác ra. Mày vừa mới dứt cơn sốt rét, tay lại còn rách da rách thịt vì đợt vét mương Đầm Lội, sức đâu mà vần nổi mấy tảng đất ấy?”

An nhìn qua khe liếp mở ra khoảng đất trống sau nhà. Mảnh đất năm phần trăm – khoảng diện tích đất đai ít ỏi mà hợp tác xã giao cho từng hộ gia đình xã viên tự canh tác tăng gia – hiện lên trơ trọi giữa trời đông. Đám cỏ gấu khô héo vì rét, mặt đất đóng một lớp váng trắng mỏng của muối phèn, lỗ chỗ những hốc rễ cây khô khốc.

Thời buổi này, thóc lúa ăn theo công điểm của hợp tác xã sau mỗi vụ thu hoạch nộp thuế chỉ còn lại vài chục cân thóc hạt lép hạt lép, người nông dân nếu không biết bấu víu vào mảnh ruộng phần trăm thì cầm chắc cái đói triền miên khi tháng Ba ngày Tám ập đến. Với tư cách là một kỹ sư nông nghiệp và công nghệ sinh học thực phẩm, nhìn mảnh đất màu mỡ bị bỏ hoang hóa chỉ vì thiếu kỹ thuật cải tạo, lòng An như có lửa đốt.

“U đừng lo,” An mỉm cười, giọng điềm đạm mà chắc nịch. “Con học được mấy mẹo cải tạo đất của bà con miền núi hồi đi thanh niên xung phong. Đất có chua, có cằn đến mấy, chỉ cần mình biết bón đúng cách, cho đất thở, thau chua rửa phèn thì rau màu khắc lớn nhanh như thổi. Nhà mình có thêm luống rau muống, giàn đỗ, củ khoai thì thầy đỡ phải ăn cơm độn sắn mục, sức khỏe mới mau lại được.”

Cụ Khiêm ngước đôi mắt đục mờ nhìn con gái. Từ ngày An trở về sau trận sốt thập tử nhất sinh, cụ nhận thấy ở đứa con này một sự trầm tĩnh và kiên nghị khác thường. Lời ăn tiếng nói mộc mạc nhưng ẩn chứa bên trong một sự hiểu biết sâu sắc lạ kỳ, không giống như những cô thôn nữ chỉ biết cắm đầu cấy gặt theo lệnh kẻng đầu làng.

“Con bé nói có lý đấy bu nó ạ,” Cụ Khiêm hắng giọng, tiếng nói tuy yếu nhưng đầy vẻ bao dung. “Đất không phụ công người bao giờ. Mày có chí muốn làm thì cứ làm, nhưng phải giữ sức, cái vết thương ở tay đừng để ngấm nước bùn bẩn mà làm độc.”

“Dạ, con biết rồi ạ.”

Dọn dẹp xong mấy cái bát mẻ, An quấn chặt lại mảnh vải dù màu pháo sáng mà Bình đã băng cho cô hôm trước quanh lòng bàn tay, xốc chiếc cuốc rỉ cắm sẵn cán tre bước ra vườn sau.

Công việc đầu tiên là khảo sát hiện trạng đất. An ngồi thụp xuống góc vườn, dùng lưỡi cuốc bập mạnh một nhát. Lưỡi thép kêu “chát” một tiếng khô khốc, chỉ ăn sâu được chừng nửa gang tay rồi khựng lại trước tầng đất sét nén chặt, chai cứng. Cô bốc một nắm đất vụn đưa lên mũi ngửi. Đất có mùi hơi tanh nồng của hợp chất lưu huỳnh bị khử ngầm dưới đáy, hạt đất dính bết, chua gắt. Đất này độ pH chỉ rơi vào khoảng 4.0 đến 4.5, rễ cây non cắm xuống chỉ cần gặp vài trận mưa rào là nghẹt rễ, thối đen ngay lập tức.

Muốn cải tạo loại đất phèn chai cứng này trong điều kiện không có lấy một hạt phân lân hay vôi tôi công nghiệp của cửa hàng vật tư, An buộc phải tận dụng tất cả những thứ phế phẩm sinh học rẻ tiền nhất quanh mình.

Cô bắt đầu vạch ra quy hoạch rõ ràng trong đầu: khu đất một sào hai sẽ chia làm ba phân khu. Phân khu cao ráo gần giếng nước dành gieo luống cải ngồng và cải bẹ; dải đất dọc bờ rào hướng đông nhiều nắng sẽ làm giàn cắm cọc nứa cho đậu đũa và mướp hương; khu trũng phía sau sát mép ao sẽ đào rãnh sâu để thoát nước phèn, đồng thời đặt hố ủ phân hữu cơ.

An cầm cuốc, hì hục bổ từng nhát đất. Đất rắn như sỏi đá khiến từng thớ cơ trên cánh tay cô giật liên hồi. Lòng bàn tay rát buốt, nhưng cô cắn răng chịu đựng, điều hòa hơi thở đều đặn như nhịp bước hành quân năm xưa. Cô không cuốc sâu ngay mà bổ lớp mặt, lật từng tảng đất to lên rồi để nguyên đó. Đây là biện pháp “phơi ải” cổ truyền kết hợp nguyên lý oxy hóa tầng mặt: ánh nắng mặt trời và gió bấc hanh hao sẽ làm bay hơi các khí độc tích tụ, đồng thời biến các ion sắt và nhôm tự do kết tinh lại, giảm bớt độc tính cho cây trồng non sau này.

Đến trưa, khi những vạt đất phơi ải đã ngay hàng thẳng lối, An khoác chiếc sọt tre rách ra bờ đê sông Đáy.

Ven bãi bồi nơi nước sông Đáy cuộn chảy lững lờ, từng mảng bèo bồng – hay còn gọi là bèo tây – trôi dạt ken đặc vào các bãi cọc tre ven mép nước. Bèo tây đối với dân làng An Hòa chỉ là thứ cản trở dòng chảy hoặc chặt vớt về băm nhỏ cho lợn ăn độn, nhưng với An, đây chính là một kho báu sinh khối khổng lồ. Lá bèo giàu đạm và kali tự nhiên, thân xốp chứa đầy bọt khí, khi phân hủy sẽ tạo ra lượng mùn hữu cơ cực kỳ tơi xốp, có khả năng giữ ẩm và giải phóng dinh dưỡng chậm cho đất cát pha.

An dùng chiếc sào tre có gắn móc sắt, đứng bên mép nước thoăn thoắt vớt từng dề bèo bồng to tướng lên bờ. Bùn phù sa bám quanh rễ bèo đen nhánh, tanh nồng mùi nước ngọt đồng bằng. Cô vặt bỏ phần rễ quá già bám cặn bẩn, chỉ giữ lại phần thân lá bánh tẻ căng mọng, chất đầy hai sọt trĩu nặng rồi thoăn thoắt gánh về.

Chưa dừng lại ở đó, An tranh thủ gom toàn bộ tro bếp tích tụ từ mấy tháng mùa đông của nhà mình và sang xin thêm hai thúng tro trấu của bà con quanh xóm Trại. Tro rơm trấu chứa hàm lượng silrat và kali cacbonat rất cao, tính kiềm tự nhiên của nó chính là phương thuốc khử chua hạ phèn tuyệt vời nhất mà thiên nhiên ban tặng cho người nông dân nghèo.

Ở góc vườn sát bờ ao, An đào một cái hố sâu chừng một mét, rộng chừng hai sải tay. Cô bắt đầu tiến hành quy trình ủ phân vi sinh kỵ khí theo từng lớp:

Lớp đáy hố, An rải một lớp rơm rạ mục dày hai mươi phân để tạo độ thông thoáng. Tiếp đến là một lớp bèo bồng đã dùng dao băm ngắn chừng đốt ngón tay, giẫm thật chặt. Lên trên lớp bèo, cô rải đều một lớp tro bếp mỏng kết hợp với chút vôi bột xin được từ hôm cứu kho thóc giống. Để ngăn ngừa nấm bệnh và xua đuổi dế trũi, bọ hung đẻ trứng, An ra góc ngõ hái hai rổ lá xoan đắng rải xen kẽ vào giữa. Hoạt chất đắng tự nhiên trong lá xoan là loại thuốc trừ sâu sinh học tuyệt hảo, vừa diệt ấu trùng gây hại vừa giữ cho khối ủ không bị dòi bọ xâm lấn.

Cứ một lớp bèo, một lớp rơm rạ lại đến một lớp tro trấu và chút bùn loãng tưới ẩm. Khi đống ủ cao lùm lùm mặt đất, An dùng bùn ao trát kín một lớp dày bên ngoài như một chiếc vung nồi khổng lồ, bên trên phủ thêm một lớp lá chuối khô che mưa nắng.

Dưới lớp bùn trát kín ấy, nhiệt độ bên trong sẽ nhanh chóng tăng lên tới sáu mươi độ C chỉ sau vài ngày nhờ hoạt động của các vi sinh vật yếm khí bản địa, đốt cháy mọi mầm mống hạt cỏ dại và phân giải xenlulozo thành mùn hữu cơ hoai mục.

Đang lui cui dùng thanh tre nẹp lại lớp lá chuối phủ trên miệng hố ủ thì phía bờ rào râm ran tiếng bước chân lạo xạo dẫm lên cành củi khô.

“Cô An làm cái gì mà khói bụi mù mịt, lại còn trát bùn kín mít như ụ pháo thế kia?”

Giọng nói trầm ấm, quen thuộc vang lên khiến An giật mình quay lại.

Bình đang đứng bên bờ giậu nứa xiêu vẹo. Anh mặc chiếc áo chấn thủ màu xanh rêu bạc phếch quen thuộc, ống quần xắn cao quá đầu gối để lộ bắp chân rắn rỏi còn dính vài vệt bùn non của buổi làm đồng vừa tan. Trên vai anh vác ba cây nứa ngộ to bản, thẳng tắp, tay kia xách một chiếc thúng con úp chiếc nón mê rách lên trên.

“Anh Bình...” An khẽ chớp mắt, đưa mu bàn tay áo gạt vệt bùn vô tình quệt ngang trán. “Sao tan buổi đồng anh không về nghỉ, lại qua đây làm gì thế này?”

Bình bước qua khoảng rào thưa, khẽ nghiêng đầu cười, nụ cười làm bừng sáng gương mặt sạm đen sương gió:

“Hôm trước đi ngang qua thấy giậu nứa sau nhà cụ Khiêm mục nát hết cả, gà lợn xóm bên cứ rúc sang bới đất. Tiện thể ban chỉ huy đội vừa chặt tỉa mấy bụi nứa góc bờ tre hợp tác, tôi xin lại mấy cây cong queo mang sang dặm lại cho cụ, kẻo gió bấc nó lùa rét buốt cả gian sau.”

Anh đặt mấy cây nứa xuống đất cái “rầm”, ánh mắt lập tức lướt nhanh qua khoảng vườn đã được cuốc xới vuông vắn, rồi dừng lại trên chiếc hố đất trát bùn của An. Đôi lông mày rậm của người cựu chiến binh khẽ nhướn lên vẻ ngạc nhiên:

“Cô đang ủ phân đấy à? Sao không dùng hố phân chuồng hở mà lại đào sâu trát bùn kín thế kia? Lại còn băm cả bèo tây với lá xoan... Cách này lạ quá, tôi đi khắp mấy xã quanh vùng chưa thấy ai làm bao giờ.”

An khẽ cười, thong thả giải thích bằng cái giọng rành rọt, tự nhiên:

“Phân chuồng lộ thiên mùi hôi thối bốc lên làm bay mất hết đạm, lại rước ruồi muỗi về nhà, rải ra ruộng thì cỏ dại mọc lấn át lúa. Ủ kín thế này nhiệt bên trong bốc lên cao lắm anh ạ, nó làm chín bèo, rơm rạ mục nhanh gấp ba lần, mà hạt cỏ hay mầm bệnh đều bị nhiệt diệt sạch. Lá xoan đắng có chất xua đuổi sâu đất, bọ hung cắn rễ. Chừng hai mươi ngày nữa mở ra, mình sẽ có một hố phân xanh mục tơi xốp, bón cho luống rau thì lá mướt rượt mà không lo bị xót rễ.”

Bình chăm chú lắng nghe, trong mắt ánh lên sự thán phục không hề che giấu. Anh ngồi xổm xuống, bốc một vụn đất phơi ải lên mân mê trên đầu ngón tay ráp xì:

“Đất vườn nhà cụ chua lắm, tôi nhớ vụ chiêm năm ngoái cụ gieo hạt nào nghẹt hạt nấy. Đất này muốn thuần được, chỉ có nước vác bùn ao nỏ đập vụn bón lót thôi.”

“Đúng đấy anh!” Mắt An sáng lên như tìm được người tri âm. “Em đang tính phơi ải đất xong sẽ vét ít bùn dưới đáy ao kia lên phơi khô rồi đập nhỏ rải đều mặt luống. Nhưng bùn ao lắng sâu quá, em đang định ngày mai mượn cái gầu sòng tát cạn mép ao mới xúc được.”

Bình không nói một lời, đứng phắt dậy. Anh cởi phăng chiếc áo chấn thủ vắt lên cọc nứa, để lộ bờ vai lực lưỡng và tấm lưng trần màu đồng hun săn chắc.

“Gầu sòng tát làm gì cho nhọc sức. Để đấy tôi!”

“Ơ kìa anh Bình, trời rét thế này...”

An chưa kịp can ngăn thì Bình đã cầm chiếc xẻng sắt bước thẳng xuống mép ao cá góc vườn. Đáy ao mùa đông cạn nước trơ ra lớp bùn nhuyễn đen kịt, lạnh buốt thấu xương. Thế nhưng người lính từng lăn lộn qua những cánh rừng khộp Tây Nam dường như chẳng hề bận tâm đến cái rét cắt da. Chân trái hơi khập khiễng của anh lún sâu xuống bùn, nhưng tư thế vẫn vững vàng như một ngọn núi nhỏ. Từng nhát xẻng ngọt xớt xắn sâu vào lòng bùn, xúc lên những tảng bùn dẻo quánh, giàu chất phù sa lắng đọng ném thoăn thoắt lên bờ vườn.

“Này, đứng tránh ra kẻo bùn nó bắn bẩn hết áo!” Bình vừa thở ra từng luồng khói trắng vừa cười lớn, những giọt mồ hôi bắt đầu rịn ra trên trán dù trời đang rét căm căm.

Nhìn bóng lưng rộng lớn của anh gập xuống rồi vươn lên nhịp nhàng giữa làn nước lạnh, lòng An dâng lên một niềm cảm kích sâu xa. Người đàn ông này luôn như vậy, ít khi nói những lời hoa mỹ, nhưng bất cứ khi nào cô cần, anh đều có mặt, lặng lẽ và kiên định đứng mũi chịu sào, gánh vác phần việc nặng nhọc nhất về phía mình.

An vội vã chạy vào bếp múc ra một bát nước chè xanh nóng hổi còn bốc khói nghi ngút. Khi Bình xúc xong khoảng bùn đủ rải cho ba luống đất lớn và bước lên bờ rửa chân tay, cô liền đưa bát nước tới:

“Anh uống ngụm nước nóng cho ấm người đã. Rét mướt thế này mà anh lội bùn, ngộ nhỡ vết thương cũ ở chân lại sưng tấy lên thì làm sao?”

Bình đón lấy bát chè, ngón tay thô ráp của anh vô tình chạm nhẹ vào đầu ngón tay thanh mảnh của An. Một luồng điện ấm áp dường như chạy dọc qua sống lưng cả hai người. Bình vội cúi đầu húp một ngụm chè đặc, giấu đi ánh mắt có phần bối rối:

“Vết thương ngoài da thời chiến trường thôi, quen rồi cô An ạ. À... ban nãy tôi suýt quên.”

Anh với tay lấy chiếc thúng con úp nón mê lúc nãy mang sang, nhấc chiếc nón rách ra. Bên trong là một nắm hạt giống màu nâu đen bọc cẩn thận trong tấm lá chuối tươi, cùng một bó gièo mạ cải non mơn mởn được buộc bằng sợi rơm nếp mềm mại.

“Hôm qua lên trạm thực nghiệm của huyện báo cáo về kho thóc giống, tôi thấy mấy anh kỹ thuật viên có giống đậu đũa cao sản của Viện Cây lương thực gửi về khảo nghiệm. Tôi xin mãi mới được một vốc hạt giống thuần với mấy chục nhánh cải ngồng này. Giống cải này chịu rét tốt lắm, đem gieo lên luống bùn ải của cô thì hợp nước hợp đất phải biết.”

An đón lấy gói hạt giống, ngón tay nâng niu từng hạt đậu tròn mẩy, lòng ngập tràn niềm vui sướng:

“Hạt mẩy và đều lắm anh Bình! Có giống đậu đũa này xen canh vào đất cát pha thì rễ của nó sẽ sinh ra các nốt sần cố định đạm tự nhiên, vừa cho quả sai vừa làm đất thêm màu mỡ cho vụ sau. Cảm ơn anh nhiều lắm!”

Bình nhìn nụ cười rạng rỡ như hoa nở giữa mùa đông của An, tim anh đập rộn lên một nhịp. Anh khẽ hắng giọng, đưa tay gãi đầu:

Đăng nhập để thả tim Đăng nhập để tương tác

Ủng hộ tác giả ai4
Mỗi lời động viên là động lực để tác giả tiếp tục sáng tác.

ai4

Tác giả của câu chuyện này · Hãy cùng ủng hộ những chương tiếp theo.

Đăng nhập để theo dõi

Bình luận chương 0

Đăng nhập để tham gia bình luận.

Đang tải bình luận…