Xuyên không thập niên 70

Chương 6: Buổi sớm cửa hàng bách hóa

Gió bấc cuối đông thổi ràn rạt qua rặng tre ngà đầu ngõ xóm Trại, rít lên từng hồi buốt buốt như cứa vào da thịt. Bốn giờ sáng, bóng tối vẫn còn đặc quánh như mực tàu bao trùm lấy khắp làng trên xóm dưới. Trong gian nhà tranh vách đất của cụ Khiêm, một đốm lửa nhỏ le lói bùng lên từ chiếc bùi nhùi rơm.

An cẩn thận châm ngọn đèn dầu hỏa được vặn nhỏ đến mức bấc chỉ còn như một hạt đậu đỏ. Dầu hỏa thời buổi này quý hơn cả mật ong, cả tháng tiêu chuẩn của gia đình ông giáo hưu trí chỉ vỏn vẹn nửa lít, nếu không phải việc hệ trọng thì chẳng ai dám thắp quá nửa tuần hương.

An khẽ khàng mặc thêm chiếc áo sơ mi bảo hộ lao động màu cỏ úa ra ngoài manh áo bà ba nâu đã sờn rách hai bên cùi chỏ. Bàn tay phải của cô, nơi những vết xước rách da thịt rỉ máu sau đợt vét mương Đầm Lội và dọn kho nồm ẩm, nay đã se miệng nhờ được rịt bột lá xoan khô và bọc cẩn thận bằng dải vải dù pháo sáng màu xanh rêu. Mùi vải dù khen khét quen thuộc của người lính chiến trường vẫn thoang thoảng quẩn quanh nơi đầu ngón tay, mang theo một cảm giác an tâm kỳ lạ.

“An à, con dậy chưa?”

Tiếng bà Khiêm thì thào khe khẽ từ phía giường trong. Tiếng ho húng hắng của cụ Khiêm lại vang lên sau tấm liếp nứa, khô khốc và tức tưởi trong màn sương giá. Bà Khiêm lập cập lần bước ra, trên tay cầm một chiếc túi vải thô được may lại từ bao tải gạo đã giặt trắng tinh.

“U, con dậy rồi. U nằm thêm đi kẻo lạnh, gió ngoài đê thổi dữ lắm.” An đỡ lấy bàn tay lạnh ngắt, gầy trơ xương của mẹ.

Bà Khiêm khẽ lắc đầu, run rẩy mở góc túi vải, lôi ra một xấp giấy nhỏ được buộc kỹ càng bằng một sợi chỉ đỏ:

“Đây là cuốn sổ gia đình với hai tấm phiếu vải loại D của cả nhà ta nhịn cả năm nay mới dám đem đổi. Còn có phiếu mua dầu hỏa với nửa cân muối hạt quýt. Nghe đâu chuyến này cửa hàng bách hóa huyện mới nhập về được mấy sấp vải thô Nam Định với ít mỡ nước, người ta đổ xô đi đông lắm. Con với cái Đượm đi sớm mà xếp nốt, chậm chân là hết tiêu chuẩn, lại phải đợi sang quý sau thì bố mày không có manh áo lành mà chống rét đâu con ơi.”

An đón lấy xấp tem phiếu mỏng manh. Những mảnh giấy in bằng mực xanh, mực đỏ mờ nhạt trên chất liệu giấy giang xơ xác, góc giấy đã quăn queo vì mồ hôi và sự nâng niu của người già. Đó không đơn thuần là vài mẩu giấy vụn, mà là mồ hôi, nước mắt và cả sự sinh tồn của cả một gia đình trong những năm tháng thắt lưng buộc bụng này.

“U yên tâm, con với chị Đượm đi bây giờ đây. Nhất định con sẽ mang đủ muối với vải về cho thầy bọc áo.”

Ngoài ngõ vang lên tiếng lách cách quen thuộc của xích líp xe đạp cọ vào hộp xích han gỉ, kèm theo tiếng ho “hèm” rất khẽ của chị Đượm. An vội vã nhét xấp tem phiếu sâu vào đáy túi áo trong ngực, cài chiếc kim băng han gỉ lại cho chắc chắn, rồi khoác chiếc túi bạt lên vai bước ra sân.

Sương mù giăng kín mặt ngõ, bám thành từng hạt li ti trên vành nón mê rách chóp của An. Đượm đứng co ro bên chiếc xe đạp Thống Nhất khung nam đã tróc gần hết sơn xanh, hai bàn chân xỏ trong đôi dép nhựa Tiền Phong mòn vẹt đế đang liên tục giậm giậm trên nền đất lạnh buốt để xua đi cái rét.

“Rét thấu xương thấu tủy cô An ạ!” Đượm xuýt xoa, phả ra một luồng khói trắng xóa trong đêm mịt mù. “Mau lên xe tôi đèo. Phải cắm cổ mà đạp cho kịp trước lúc chợ huyện mở cửa, chậm một bước là chỉ có nước húp cháo rùa!”

“Để tôi đạp một đoạn cho ấm người, chị ngồi sau che gió đi.” An mỉm cười, với tay cầm lấy ghi-đông.

“Thôi khỏi! Cái tay cô quấn giẻ như cái bánh tét thế kia, cầm ghi-đông qua mấy ổ gà đường đê nó dằn cho tòe máu ra bây giờ. Lên xe mau, sức trâu mộng như Đặng Thị Đượm này thì mười cây số đường đất nhằm nhò gì!”

Chiếc xe đạp Thống Nhất già nua rên lên ken két dưới sức nặng của hai cô gái trẻ. Con đường đất chạy dọc theo triền đê sông Đáy lồi lõm những ổ trâu, ổ gà đọng nước bùn quánh lại sau trận mưa phùn mấy hôm trước. Hai bên vệ đê, những rặng lau sậy xào xạc trong gió bấc, quất vào ống quần ướt đẫm hơi sương. Đượm gò lưng đạp thốc lên dốc, hơi thở dốc hòa cùng tiếng gió rít bên tai.

Sau hơn một tiếng đồng hồ gồng mình trên con đường gập ghềnh, ánh bình minh nhàn nhạt như lòng đỏ trứng gà muối mới lờ mờ rạng lên sau những rặng bạch đàn khẳng khiu của thị trấn huyện Chương Mỹ.

Trung tâm thị trấn hiện ra trong làn sương xám xịt với dãy nhà gạch một tầng quét vôi vàng đã bong tróc từng mảng lớn. Trước cổng Cửa hàng Mậu dịch Quốc doanh huyện, cảnh tượng đập vào mắt An khiến cô dù đã chuẩn bị tâm lý vẫn không khỏi ngỡ ngàng.

Mới hơn năm giờ rưỡi sáng, nhưng khoảng sân gạch trước cửa hàng đã chật kín người. Không khí đặc quánh mùi mồ hôi, mùi bùn đất đồng ruộng, mùi thuốc lào khét lẹt và cái ẩm mốc ngột ngạt của những manh áo bông cũ kỹ.

Nhưng kỳ lạ nhất là cái hàng dài dằng dặc nối đuôi nhau từ bậc thềm cửa hàng kéo dài ra tận mép mương lộ thiên. Đó không phải là một hàng người thẳng tắp, mà là một chuỗi những vật vô tri được xếp đặt trật tự một cách kỳ quái: những hòn gạch ba banh vỡ đôi, những chiếc nón rách tơi tả, những chiếc rổ sề thủng đáy, đôi dép lốp đứt quai, thậm chí là cả một khúc tre mục hay hòn đá cuội to bằng nắm tay.

“Đấy! Tôi đã bảo mà, thiên hạ họ mang gạch ra ‘đặt nốt’ từ nửa đêm hôm qua rồi!” Đượm đập tay vào đùi đánh đét một cái, vừa thở dốc vừa vội vã dắt xe nép vào gốc cây xà cừ gần đó.

“Xếp hàng bằng gạch thế này mà người ta cũng chịu à chị?” An ngạc nhiên hỏi, ánh mắt lướt qua hàng trăm “vật thế thân” nằm la liệt trên mặt đất.

“Chứ sao không! Luật bất thành văn ở cái đất mậu dịch này đấy cô nương ơi!” Đượm kéo tay An chạy vội lại phía cuối hàng. “Hòn gạch nào nằm trước thì người ấy được vào trước. Ai dám đá văng gạch của người khác là ăn đòn hội đồng ngay. Mau, nhặt lấy cục gạch non đằng kia đặt xuống mau lên!”

An nhanh chân nhặt nửa viên gạch chỉ màu đỏ vỡ vụn dưới mương nước, đặt cẩn thận nối tiếp sau chiếc rổ sề của một bà cụ xóm bên. Hai chị em vừa đứng vào vị trí thì phía sau đã có thêm năm, sáu người nữa lục tục kéo đến, lập tức chèn thêm nón rách và que củi xuống đất.

Gió sớm thổi qua khoảng sân gạch buốt lạnh thấu xương. Người đi mua hàng co ro túm tụm lại thành từng cụm, người xoa tay vào nhau phà hơi nóng, người sốt ruột nhón chân nhìn vào cánh cửa gỗ lim then cài đóng chặt của cửa hàng mậu dịch. Tiếng bàn tán xôn xao xen lẫn tiếng càu nhàu, tiếng trẻ con khóc ngằn ngặt vì lạnh tạo nên một thứ âm thanh hỗn tạp, ngột ngạt đến nghẹt thở.

Đúng sáu giờ ba mươi phút, tiếng lách cách của then sắt cọ vào móc khóa vang lên chói tai.

Cánh cửa gỗ nặng nề từ từ hé mở.

Cả khoảng sân như một tổ ong vỡ. Bất chấp những hòn gạch, đôi dép đã xếp hàng ngay ngắn từ trước, dòng người như một cơn sóng lũ ùa mạnh về phía trước, xô đẩy, chen lấn đến nghẹt thở. Tiếng la hét, chửi bới bắt đầu rộ lên:

“Ấy ấy, ai xô đấy! Đừng có lấn, nát cái rổ của tôi bây giờ!”

“Gạch của tôi ở đây từ bốn giờ sáng! Cái anh kia đi đâu mà chen ngang thế hả?”

“Tránh ra cho người già vào trước! Ối giời ôi, đứa nào giẫm tụt gót dép tao rồi!”

Dòng người cuồn cuộn ép chặt lấy hai cánh cửa hẹp. Đượm kéo chặt lấy vạt áo An, hai mắt trợn ngược, dùng cả tấm thân đẫy đà của mình gồng lên chống đỡ những cú huých cùi chỏ từ bốn phía:

“An! Bám chặt lấy tôi! Cẩn thận cái túi áo trong ngực, ở đây lắm kẻ gian móc túi lắm đấy!”

An nghiến chặt răng, cảm giác lồng ngực mình như bị ép đến mức không thể thở nổi. Những nắm đấm vô tình, những bờ vai thô báp của đám đàn ông đi mua sắt thép và phân bón cứ chực húc văng cô ra khỏi dòng người. Cô phải dồn toàn bộ sức lực của đôi chân cựu thanh niên xung phong, bám chặt lấy bậc thềm gạch rêu phong trơn trượt để không bị ngã dập mặt xuống đất.

Bên trong quầy hàng mậu dịch, ngăn cách với đám đông bằng một hàng chấn song gỗ tiện dày cộm là ba người phụ nữ mậu dịch viên. Họ khoác những chiếc áo bông trần hoa màu sắc sặc sỡ, mái tóc uốn xoăn bồng bềnh cài kẹp nhựa xanh đỏ – một biểu tượng xa xỉ tột cùng của thị dân thời bấy giờ.

Một cô mậu dịch viên trạc ba mươi tuổi, mặt hoa da phấn nhưng đôi mày cau có như đâm lê, đang cầm chiếc thước gỗ dài một mét gõ chan chát xuống mặt bàn kính:

“Trật tự! Có câm mồm đi không thì bảo? Chen lấn nữa là tôi đóng cửa nghỉ bán cả buổi bây giờ! Nghe rõ đây: hôm nay vải phin Nam Định về ít, mỗi hộ chỉ được đổi tối đa bốn mét loại B hoặc sáu mét loại D. Muối hạt bán theo sổ, không có sổ mang phiếu đi tôi xé ráng chịu!”

Giọng nói the thé, sắc như dao cạo của cô mậu dịch viên lập tức dội một gáo nước lạnh vào đám đông đang sôi sục. Tiếng chửi bới hạ bớt giọng nhưng sự chen lấn ngấm ngầm thì lại càng thêm tàn khốc. Mỗi người đều sợ mình sẽ là kẻ chậm chân phải ra về tay trắng.

Đượm và An bị đẩy dạt dần về phía góc quầy bán chất đốt và thực phẩm phụ.

Mùi hôi nồng nặc của mắm tôm nguyên chất trong những chiếc chum sành lớn hòa lẫn với mùi tanh nồng của cá khô mục và mùi dầu hỏa ngai ngái bốc lên nồng nặc, xộc thẳng vào cánh mũi khiến An cảm thấy lợm giọng. Chiếc máy bơm dầu bằng tay kêu cọt kẹt từng nhịp, mỗi lần bóp cò là một tia dầu màu vàng đục chảy nhỏ giọt vào chiếc bình thủy tinh bám đầy cáu ghét.

“Đưa chai với tem đây!” Người mậu dịch viên bán dầu hỏa lạnh lùng quát, mắt thậm chí không thèm liếc nhìn người đối diện.

Đượm luống cuống chìa chiếc can nhựa một lít và xấp tem ra. Người mậu dịch viên giật lấy, dùng kéo cắt xoẹt một góc tem ném vào chiếc hộp sắt Tây, rồi cắm phễu rót dầu vào can. Dầu chảy chưa đầy ba phần tư can thì người đó đã giật mạnh phễu ra, làm dầu hỏa rớt lênh láng ra mặt bàn:

“Xong! Đi chỗ khác cho người sau vào!”

“Kìa chị... cái vạch một lít ở tít trên này cơ mà, của tôi thiếu mất một đốt ngón tay rồi...” Đượm xót xa nhìn ngấn dầu, lí nhí thanh minh.

“Thiếu cái gì mà thiếu? Hao hụt đường ống, cặn bã ai chịu cho? Không lấy thì trả lại đây tôi xé hủy phiếu!” Người mậu dịch viên quắc mắt trừng trừng, tay đã chực với lấy cái can.

“Thôi chị Đượm, mình lấy đi!” An vội giữ tay bạn lại. Cô biết rõ quy tắc ngầm của cái thời này: cãi lại mậu dịch viên chỉ có thiệt thân, họ sẵn sàng viện cớ “thái độ không tốt với cán bộ nhà nước” để từ chối phục vụ, lúc ấy cả nhà sẽ phải chịu cảnh tối tăm cả tháng trời.

Hai người vừa chật vật chuyển sang góc quầy vải và muối hạt thì một đợt xô đẩy dữ dội khác lại ập tới.

Một nhóm người gồm bốn, năm gã đàn ông to con mặc áo bạt, nón cối sụp thấp che nửa mặt – đám đầu nậu chuyên mua gom tem phiếu chợ đen và hàng hóa mậu dịch để tuồn ra ngoài bán giá cắt cổ – bắt đầu dùng sức thúc mạnh vào đám đông nhằm cướp lấy những vị trí đầu tiên quầy vải.

“Tránh hết ra! Nhường đường cho thương binh!” Một gã râu quai nón gầm gừ, nhưng bàn tay gã thì đang thô bạo đẩy mạnh một bà lão sang một bên.

Đám đông bị hất nghiêng ngả. Một cú huých trời giáng từ khuỷu tay của gã đàn ông đập trúng bả vai An khiến cô lảo đảo, ngã nhào về phía chân quầy hàng. Cú va chạm mạnh làm chiếc kim băng gỉ ở miệng túi áo trong ngực bật tung ra.

Xấp tem phiếu – niềm hy vọng may manh áo ấm cho cụ Khiêm và nửa cân muối hạt quýt của cả gia đình – tuột khỏi miệng túi, rơi lả tả xuống nền gạch ẩm ướt đầy vết giày dép bẩn thỉu.

“Tem của tôi!” An thảng thốt kêu lên, hoảng loạn quỳ sụp xuống toan nhặt lấy.

Nhưng đúng lúc ấy, gót giày đinh của một tên đầu nậu đang sấn tới, mũi giày chỉ còn cách tấm phiếu vải mong manh nửa tấc. Nếu chiếc đế sắt ấy giẫm xuống, mẩu giấy ẩm ướt sẽ nát vụn thành bùn đất, mọi công sức và hy vọng sẽ tan thành mây khói. Đượm ở phía sau rú lên kinh hãi nhưng bị người ta chèn cứng ngắc không thể nhúc nhích.

Trong khoảnh khắc nghìn cân treo sợi tóc, một bàn tay to lớn, ngăm đen với những khớp xương gồ ghề bất thần lao xuống như cắt.

Bàn tay ấy nhanh như cắt chộp lấy xấp tem phiếu ngay trước mũi giày đinh. Đồng thời, một bờ vai vững như bàn thạch chen ngang vào khoảng trống, che chắn hoàn toàn cho An khỏi đám người đang hỗn loạn xô tới.

“Đứng lùi lại!”

Một giọng nói trầm vang, đanh thép và đầy uy lực của người lính vang lên ngay đỉnh đầu An, át đi mọi tiếng ồn ào hỗn tạp xung quanh.

Gã đàn ông mặc áo bạt bị chặn đứng lại, gã quắc mắt nhìn lên chực văng tục: “Thằng nào muốn chết...”

Đăng nhập để thả tim Đăng nhập để tương tác

Ủng hộ tác giả ai4
Mỗi lời động viên là động lực để tác giả tiếp tục sáng tác.

ai4

Tác giả của câu chuyện này · Hãy cùng ủng hộ những chương tiếp theo.

Đăng nhập để theo dõi

Bình luận chương 0

Đăng nhập để tham gia bình luận.

Đang tải bình luận…