Xuyên không thập niên 70

Chương 5: Mẹo nhỏ tro trấu và vôi tôi

Bàn tay Trần Bình thô ráp, chai sần những vết chai của báng súng và chuôi cuốc, nhưng hơi ấm truyền qua lớp vải áo bảo hộ lại khiến lồng ngực Hoài An khẽ chấn động. Giữa gian đình mịt mù khói đuốc và hơi ẩm nồng nặc đến nghẹt thở, cái nắm tay kín đáo mà dứt khoát của người đội trưởng như một điểm tựa vững chãi, kéo giật cô ra khỏi cảm giác chông chênh, bất lực.

An ngẩng đầu lên. Ánh mắt Bình nhìn xoáy vào cô, không một gợn hoài nghi. Trong con ngươi sâu thẳm của người lính từng đi qua lằn ranh sinh tử ấy, An nhìn thấy sự gửi gắm trọn vẹn, một niềm tin mộc mạc nhưng kiên định đến mức làm sống mũi cô cay sè.

“Tôi có cách,” An đáp, giọng cô không lớn nhưng từng tiếng rơi xuống nền gạch đình nghe rõ mồn một. “Nhưng chúng ta không được chậm trễ dù chỉ một khắc. Hạt giống như đứa trẻ sơ sinh đang lên cơn sốt co giật, để quá nửa đêm nay, phôi mầm chín rục thì có trải chiếu hoa mời trời xuống cũng chịu!”

Chủ nhiệm Bùi Đắc Khoát đứng chống nạnh bên bậu cửa, chiếc bút máy Kim Tinh cài trên túi áo bốn túi rung rinh theo từng nhịp thở dồn dập vì tức tối. Nghe An nói thế, ông ta cười khẩy một tiếng, ngón tay trỏ chỉ thẳng vào mặt cô:

“Liều lĩnh! Vô tổ chức! Cô tưởng hợp tác xã này là cái bếp nhà cô đấy à mà thích làm gì thì làm? Kho thóc này là mồ hôi nước mắt của hàng trăm xã viên, là chỉ tiêu pháp lệnh của Nhà nước! Cán bộ huyện còn chưa kịp về thẩm tra, cô dựa vào đâu mà dám bảo chữa được? Hay lại học đòi mấy cái thói mê tín dị đoan, bùa chú ma giáo?”

Mấy bác lão nông trong Ban quản trị và các đội viên đứng vòng trong vòng ngoài đều nín bặt. Lời chụp mũ của ông Khoát quá nặng. Ở cái thời buổi ranh giới giữa “tận tụy lao động” và “sai lệch lập trường tư tưởng” chỉ mỏng như sợi chỉ, một lời kết tội vô căn cứ cũng đủ khiến người ta mất hết công điểm, thậm chí bị gạt ra khỏi đời sống tập thể.

An hít một hơi thật sâu, nén cơn đau rát buốt từ những vết phồng rộp tứa máu nơi lòng bàn tay. Cô hiểu rõ, nếu lúc này cô đem những thuật ngữ như “quá trình hô hấp kỵ khí”, “sinh nhiệt cục bộ”, hay “nấm mốc Aspergillus” ra để giải thích, chẳng những không thuyết phục được ai mà còn tự đẩy mình vào chỗ chết vì lai lịch bất minh. Ở đây, tri thức của tương lai chỉ có thể sống sót dưới tấm áo choàng của kinh nghiệm dân gian lấm lem bùn đất.

“Báo cáo Chủ nhiệm, thưa các bác, các chú,” An bình tĩnh tiến lên nửa bước, thanh âm rành rọt, lễ phép nhưng không hề nao núng. “Cháu không dám qua mặt cấp trên, càng không dám làm bậy với tài sản chung. Nhưng cháu từng theo thanh niên xung phong mở đường qua mỏm rừng đá Trường Sơn, từng chứng kiến một cụ lang già người Mường bày cách cứu vựa ngô giống bị ngập mưa rừng cho bộ đội biên phòng. Hạt thóc, hạt ngô tích trong bồ kín gặp khí trời nồm ẩm thì phát nhiệt, dân gian gọi là hiện tượng ‘uất khí sinh hỏa’. Hạt đang bốc khói là do khí nóng và hơi nước bị nghẽn dưới đáy cót không thoát ra được, đọng lại làm chua vỏ trấu. Muốn cứu, việc đầu tiên là phải ‘thông phong hạ hỏa’, rút sạch độc ẩm từ bên trong ruột cót, tuyệt đối không được xới tung ra ngoài gió lạnh khiến hạt bị trúng hàn mà thối mầm!”

Lời giải thích của An vừa dứt, mấy bác nông dân có tuổi trong Đội 1 đưa mắt nhìn nhau. Một ông cụ râu tóc hoa râm, tay cầm chiếc điếu bát khẽ gật gù:

“Nghe con bé nói... phải đấy ông Khoát ạ. Ngày xưa thời còn làm ăn cá thể, các cụ nhà tôi trữ thóc giống trong chum lớn mùa nồm cũng hay bị hấp hơi. Nếu đem đổ vội ra sân gạch gặp gió bấc là hôm sau vỏ hạt nhớt dính, mầm thui chột ngay. Phải có cách rút hơi ẩm từ từ trong bồ ra mới giữ được phôi.”

“Phải cái gì mà phải!” Ông Khoát sẵng giọng, mặt đỏ gay vì bị xã viên phản bác. “Đấy là chuyện thời phong kiến lạc hậu! Bây giờ là thời đại sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, mọi việc phải theo quy trình khoa học của Ty Nông nghiệp! Ai dám bảo đảm cái mẹo rừng rú ấy thành công? Nếu hỏng, hàng chục tấn giống này quy ra thóc thịt, lấy cái gì đền cho Nhà nước? Ai đứng ra gánh trách nhiệm?”

Ánh mắt sắc lẹm của ông Khoát quét qua một lượt. Dưới cái nhìn đe dọa ấy, đám thanh niên dân quân lẫn các đội viên lớn tuổi đều bất giác lùi lại nửa bước, cúi đầu nhìn mũi dép lốp. Cái đói giáp hạt đang treo lơ lửng trên đầu từng mái nhà, không một ai đủ can đảm đem số phận cả gia đình mình ra thế chấp.

“Tôi gánh!”

Một tiếng quát trầm vang như lệnh xuất quân nơi chiến hào xé toang bầu không khí ngột ngạt.

Trần Bình bước lên, chiếc chân trái hơi khập khiễng nhưng từng bước đi lại nặng nề, dứt khoát như cắm rễ xuống nền đá xanh. Anh đứng chắn ngay trước mặt Hoài An, thân hình cao lớn sừng sững tựa bức tường thành, đôi mắt quắc lên nhìn thẳng vào vị Chủ nhiệm hợp tác xã.

“Đồng chí Khoát,” Bình gằn từng tiếng, giọng đanh thép mang trọn khí phách của người chỉ huy trận mạc. “Huyện cử tôi về đây làm Đội trưởng Đội 3, là để tôi cùng bà con cày sâu cuốc bẫm, làm ra củ khoai hạt lúa chứ không phải để tôi ngồi trơ mắt nhìn giống má thối rữa chờ một tờ giấy biên bản! Từ đây lên huyện hơn hai mươi cây số đường bùn lầy, chờ cán bộ nông nghiệp đạp xe về tới nơi thì đống giống này đã thành phân mục. Tôi lấy toàn bộ sinh mệnh chính trị, tư cách đảng viên và một nghìn hai trăm công điểm cả năm nay của bản thân ra bảo lãnh!”

Cả gian đình ồ lên kinh ngạc. Một nghìn hai trăm công điểm! Đó là toàn bộ mồ hôi, nước mắt, là tiêu chuẩn chia thóc chia sắn nuôi sống bà cụ Mẫn và Bình trong suốt cả một năm ròng rã!

Bình quay sang phía các xã viên Đội 3 đang đứng lố nhố ngoài cửa, giơ cao cánh tay cuồn cuộn gân guốc:

“Nếu Đội 3 thử nghiệm cách này mà làm hỏng giống, tôi nhận mọi hình thức kỷ luật trước Huyện ủy, chịu trừ sạch tiêu chuẩn lương thực! Nhưng nếu thành công, giống được cứu sống cho vụ chiêm sắp tới, thì đó là công sức của cả tập thể! Bà con Đội 3, ai còn muốn vụ tới có thóc giống tra hạt, có cơm độn cho con cái ăn, bước vào đây cùng tôi!”

Sự dũng cảm và tinh thần dám chịu trách nhiệm của Bình như một mồi lửa ném vào đống rơm khô. Chị Đượm là người đầu tiên nhảy phắt qua bậu cửa đình, xắn tay áo nâu lên quá khuỷu, giọng the the mà rắn rỏi:

“Tôi theo anh Bình! Chết vinh còn hơn sống nhục, nhìn thóc thối mà khoanh tay thì vụ tới cả làng đi ăn mày à? Chị em Đội 3 đâu, vào việc!”

“Đúng! Làm thôi! Anh Bình dám lấy công điểm ra cược, chúng tôi sợ cái gì!”

Tiếng hưởng ứng rộ lên như sóng trào. Đám thanh niên dân quân cũng rạo rực khí thế, chẳng còn ai để tâm đến sắc mặt xám ngoét như tro tàn của ông Khoát. Chủ nhiệm Khoát há hốc mồm, chiếc bút máy cài trên ngực áo như muốn rớt ra ngoài. Ông ta run run chỉ tay vào Bình, nuốt khan một ngụm nước bọt:

“Được... các người giỏi lắm! Đồng chí Cần, lập biên bản ghi rõ: Đội trưởng Trần Bình tự ý phá hoại hiện trường, tự tiện áp dụng phương pháp phi khoa học! Nếu có thiệt hại, Đội 3 hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật!”

Nói đoạn, ông Khoát giận dữ giật mạnh chiếc cặp da sờn góc, hậm hực quay lưng bước vội ra màn mưa phùn mịt mùng ngoài sân đình, để lại gian kho hỗn loạn nhưng bừng bừng ý chí.

An thở phào một hơi, nhưng cô biết, cuộc chiến thực sự bây giờ mới bắt đầu. Thời gian không chờ đợi ai. Cô quay sang Bình, ánh mắt lấp lánh sự cảm phục:

“Cảm ơn anh. Bây giờ phải chia người làm ngay bốn việc, chậm một khắc là hỏng hết.”

“Cô cứ ra lệnh, tôi đốc thúc anh em làm bằng xong!” Bình nhìn An, ánh mắt đầy vẻ tin cậy.

An gật đầu, lập tức phân công bằng tác phong nhanh gọn, chuẩn xác của một kỹ sư công nghệ:

“Việc thứ nhất: Chị Đượm dẫn mấy chị em chạy ngay ra lò gạch cũ đầu xóm hoặc nhà bác nào vừa dỡ bếp, gom cho tôi khoảng bốn đến năm thúng vôi tôi khô. Nhớ kỹ là vôi bột khô kiệt, không được lẫn một giọt nước! Kiếm thêm mấy tấm bao tải gai hoặc bao sợi đay rách, rũ sạch bụi.”

“Có ngay! Lò gạch xóm Trại sẵn vôi lắm, tôi đi một loáng là về!” Đượm thoăn thoắt kéo theo ba cô gái trẻ chạy vội ra cửa.

“Việc thứ hai,” An nhìn về phía đám thanh niên trai tráng. “Các anh mang dao rựa ra rặng tre đằng sau đình, chặt cho tôi mười lăm cây tre bương hoặc tre gai già, gióng dài và thẳng. Dùng dùi sắt nung đỏ đục thủng hết các mắt tre bên trong để tạo thành ống rỗng. Sau đó, trên thân mỗi ống tre, dùng dao khoét các lỗ so le cách nhau chừng một gang tay, lỗ to bằng đầu ngón tay cái, khoét chéo hướng lên trên để hạt không lọt vào trong nhưng hơi nóng có thể thoát ra!”

Đám thanh niên thoáng ngơ ngác trước yêu cầu kỳ lạ, nhưng thấy Bình nghiêm nghị gật đầu, một anh lập tức hô lớn:

“Rõ rồi! Đục ống tre làm ống dẫn khói chứ gì! Anh em mang rựa đi theo tôi!”

“Còn việc thứ ba,” An quay sang Bình và số xã viên còn lại. “Tìm mười cái nong lớn, quét sạch bụi, kê cao cách mặt đất nửa mét ở hai gian đình bên tả và bên hữu. Gom toàn bộ trấu khô và rơm nếp sạch trên gác bếp của các nhà gần đây. Đem trấu cho vào chảo gang lớn rang nóng già trên bếp lửa cho kiệt sạch hơi ẩm rồi tãi ra cho nguội hẳn. Chúng ta không đảo tung khối hạt, mà sẽ bóc tách từng lớp!”

Mệnh lệnh được ban ra rành rọt, khúc chiết đến mức không ai nghĩ đó là lời của một cô gái vừa ốm dậy. Gian đình cổ vốn thâm nghiêm, tịch mịch bỗng chốc biến thành một công trường hối hả giữa đêm đen. Ánh lửa bập bùng từ những ngọn đuốc dầu trẩu soi rõ những gương mặt lấm lem mồ hôi nhưng rạng ngời quyết tâm.

Nửa tiếng sau, những vật liệu cần thiết lần lượt được tập kết về gian kho.

An trực tiếp chỉ đạo quy trình xử lý. Dưới đáy của một chiếc cót quây bằng nứa đan cao lút đầu người, cô hướng dẫn bà con rải một lớp rơm nếp rang khô dày chừng hai gang tay để cách ẩm tuyệt đối với nền gạch ngậm nước. Bên trên lớp rơm, An cho đặt những chiếc bọc bằng vải bao tải gai chứa đầy vôi tôi khô.

“Vôi tôi khô có tính háo nước cực mạnh,” An thầm nghĩ trong đầu, cẩn thận kiểm tra từng mối buộc của bao gai. Ở thế kỷ 21, người ta dùng silicagel hay máy hút ẩm công nghiệp, nhưng giữa năm 1976 này, vôi sống và vôi tôi khô chính là chất hút ẩm rẻ tiền và hiệu quả nhất mà thiên nhiên ban tặng. Lớp vôi nằm dưới đáy sẽ hoạt động như một cỗ máy bơm ngầm, liên tục hút sạch lượng ẩm tích tụ rỉ xuống từ khối hạt bên trên mà không hề làm hạt bị nhiễm kiềm trực tiếp.

Tiếp đó, An cho rải một lớp tro trấu rang nguội để tạo màng ngăn vi sinh vật và chống nấm mốc xâm nhập ngược.

Khi lớp đệm đáy đã hoàn tất, khâu quan trọng nhất bắt đầu: cắm ống thông nhiệt.

Mười lăm ống tre bương dài hơn hai mét, đã được đục mắt rỗng tuếch và trổ chi chít những lỗ thoát hơi hình mang cá, được Bình và các thanh niên lực lưỡng cắm thẳng đứng và cắm chéo từ trên đỉnh đống hạt xuống tận đáy cót. Khoảng cách giữa các ống được An căn chỉnh tỉ mỉ theo bán kính tản nhiệt tự nhiên, chừng sáu mươi đến bảy mươi phân một ống.

Vừa cắm xong ống tre thứ năm, một luồng hơi nóng ẩm ngột ngạt kèm theo mùi chua nồng lập tức từ trong lòng ống tre bốc ngược lên trời, phả thẳng vào mặt An.

“Bốc hơi rồi! Ống tre đang nhả khói kìa!” Một anh dân quân reo lên kinh ngạc khi nhìn thấy làn khói mờ mờ cuộn tròn thoát ra từ miệng ống tre trên đỉnh cót ngô.

Đăng nhập để thả tim Đăng nhập để tương tác

Ủng hộ tác giả ai4
Mỗi lời động viên là động lực để tác giả tiếp tục sáng tác.

ai4

Tác giả của câu chuyện này · Hãy cùng ủng hộ những chương tiếp theo.

Đăng nhập để theo dõi

Bình luận chương 0

Đăng nhập để tham gia bình luận.

Đang tải bình luận…