Xuyên không thập niên 70
Chương 4: Nguy cơ mục nát kho giống
Tiếng kêu thất thanh của anh Cần như một gáo nước lạnh tạt thẳng vào bầu không khí ấm cúng hiếm hoi vừa mới nhen nhóm trong gian nhà tranh xóm Trại.
Bát sắn thơm bùi trên tay cụ Khiêm khựng lại giữa chừng. Đôi tay già nua vốn đã run rẩy vì chứng ho hen kinh niên nay lại càng rung lên bần bật, chiếc đũa tre gõ lách cách vào mép bát sành sứt mẻ. Bà Khiêm đứng chết lặng bên bậu cửa bếp, mặt cắt không còn một giọt máu, chiếc muôi gỗ cầm trên tay rơi tõm xuống nồi cám lợn kêu một tiếng “bõm” khô khốc.
“Thóc giống... ngô giống bốc khói ư?” Giọng cụ Khiêm run lên, nghẹn ứ nơi cổ họng. Cụ chống tay xuống phản, gắng gượng gượng đứng dậy nhưng hai đầu gối lỏng khỏng như muốn khụy xuống. “Trời đất ơi... Vụ chiêm này trông cả vào mấy chục cót giống ấy. Mất giống là mất mùa, mất mùa thì cả làng An Hòa này ôm nhau mà chết đói mất thôi!”
Thóc giống và ngô hạt dự trữ của hợp tác xã không đơn thuần là tài sản tập thể ghi trên những trang sổ tay bọc bìa báo của ban quản lý. Trong những năm tháng sau chiến tranh, khi hạt gạo hạt bo bo đều phải cân đong từng lạng theo tem phiếu, khi đất đai trũng phèn bãi sông Đáy vừa oằn mình qua cơn lũ quét vụ hè thu, thì những hạt mầm ấy chính là mạng sống, là hy vọng sinh tồn duy nhất của hàng trăm nhân khẩu trong làng cho vụ mùa giáp hạt sắp tới.
An vội vàng đặt bát cơm ăn dở lên chõng tre. Cô tiến nhanh tới đỡ lấy cánh tay gầy guộc của cha, giọng nói vẫn giữ được sự bình tĩnh đến lạ kỳ:
“Thầy cứ ngồi yên đây, đừng xúc động quá mà lại lên cơn hen. Để con ra đình xem tình hình thế nào.”
“Không được, tôi là thủ thư, giữ sổ sách kiểm kê của kho, xảy ra cơ sự này tôi không thể ngồi nhà!” Cụ Khiêm thở dốc, vội vàng với lấy chiếc áo bông trần đã sờn rách ở mép cổ, ho sù sụ từng cơn rồi quả quyết bước ra.
Biết tính cha cứng cỏi, An không cản nữa. Cô với chiếc áo bảo hộ lao động màu cỏ úa khoác vội lên người, chân xỏ vội vào đôi dép lốp chằng dây thép rồi cùng anh Cần lao ra ngõ.
Gió bấc cuối đông thổi hun hút qua những rặng tre ngà ken dày đặc ven đường làng. Thời tiết mấy ngày qua độc địa khôn lường. Sau đợt rét nàng Bân hanh khô là chuỗi ngày nồm ẩm kéo dài lê thê đặc trưng của vùng đồng bằng Bắc Bộ. Hơi nước từ mặt sông Đáy bốc lên cuồn cuộn, biến bầu không khí thành một thứ sương mù nhờ nhợ, dính dấp và nhớp nháp. Đất đường làng nhão nhoét như cháo quấy, bám chặt lấy đế dép cao su trơn tuột. Mặt tường nhà nào cũng rịn ra những giọt nước đùng đục như đổ mồ hôi hột.
An vừa rảo bước thoăn thoắt theo ánh đèn pin leo lét của anh Cần, vừa cau mày tính toán trong đầu. Với một người từng là kỹ sư công nghệ sinh học và chế biến nông sản, cô hiểu quá rõ bản chất của hiện tượng mà người dân quê vẫn gọi là “hấp hơi bốc khói”.
Ngũ cốc thu hoạch từ vụ trước, nếu quá trình phơi sấy ban đầu không đạt độ ẩm tiêu chuẩn dưới mười ba phần trăm, gặp phải những đợt nồm ẩm nhiệt độ dao động từ hai mươi lăm đến hai mươi tám độ C, sẽ nhanh chóng kích hoạt quá trình hô hấp tế bào của hạt. Hạt thở ra nhiệt lượng và hơi nước, hơi nước không thoát được lại làm tăng độ ẩm của khối hạt, tạo thành một vòng lặp kín thúc đẩy các vi sinh vật hoại sinh, đặc biệt là nấm mốc phát triển bùng phát. Khi khối hạt tích tụ nhiệt độ vượt ngưỡng bốn mươi độ C, quá trình tự sinh nhiệt do vi sinh vật phân giải tinh bột sẽ biến lòng đống hạt thành một cái lò ủ men khổng lồ.
Nếu không can thiệp kịp thời, phôi mầm sẽ bị “luộc chín” bởi chính nhiệt lượng nội sinh, biến toàn bộ hạt giống quý giá thành một đống mùn đen thối rữa chỉ trong vòng hai đến ba ngày.
Càng gần đến khu vực đình làng An Hòa — nơi trưng dụng tiền tế và dãy tả vu làm kho chứa nông sản của Hợp tác xã — không khí càng trở nên hỗn loạn.
Tiếng kẻng đồng treo trên cành đa cổ thụ bị ai đó gióng lên từng hồi dồn dập, đanh thép xé toang màn đêm ẩm ướt. Tiếng chân người chạy rầm rập, tiếng guốc mộc khua lẹp xẹp trên mặt ngõ lát gạch nghiêng, tiếng đàn bà gọi nhau í ới, tiếng trẻ con khóc thét vì bị đánh thức giữa đêm. Hàng chục ngọn đuốc bổi bện bằng rơm rạ khô tẩm dầu hỏa bốc cháy bập bùng, soi rọi những gương mặt hốc hác, nhợt nhạt vì lo âu đang lũ lượt đổ về sân đình.
Trước cửa dãy nhà kho bằng gỗ lim lợp ngói mũi hài, một làn khói mờ nhờ nhợ cùng thứ mùi chua nồng, ngai ngái, hăng hắc bốc ra nồng nặc khiến bất kỳ ai bước tới gần cũng phải đưa tay lên bịt mũi.
“Trời đất ơi! Mùi chua như hèm rượu thế này thì còn giống má gì nữa!”
“Hỏng hết rồi! Cả cót thóc giống chiêm lẫn ngô đỏ vụ trước... phen này thì chết cả làng rồi!”
Tiếng xì xào, than khóc của các xã viên Đội 1, Đội 2 rộ lên như ong vỡ tổ. Chị Đượm cũng vừa chạy tới nơi, hai bím tóc xộc xệch, vạt áo nâu ướt đẫm sương đêm. Nhìn thấy An, Đượm chen vội qua đám đông túm lấy tay bạn, giọng lạc đi:
“An ơi! Nguy to rồi em ơi! Chiều nay tao với mấy chị em đội ba còn thấy kho kín mít, thế mà tối nay thằng Cần đi tuần thì thấy khói luồn qua kẽ ngói bay lên! Ông Khoát đang làm ầm ĩ đằng kia kìa!”
An hướng ánh mắt về phía bậc thềm đá trước cửa kho.
Dưới ánh sáng chập chờn của ba chiếc đèn bão treo trên xà hiên, Chủ nhiệm Bùi Đắc Khoát đang đứng chống nạnh, mặt đỏ gay gắt rồi lại chuyển sang xám ngoét như tro tàn. Chiếc áo bông bốn túi cài kín cúc, nơi ngực áo vẫn gài ngay ngắn chiếc bút máy Kim Tinh vỏ nhựa xanh, nhưng vẻ đạo mạo thường ngày đã hoàn toàn biến mất. Tay ông ta cầm chiếc loa sắt tây gào thét đến lạc cả giọng, nước bọt bắn ra tung tóe:
“Trật tự! Tất cả trật tự cho tôi! Bà con không được kích động, không được tụ tập gây mất an ninh trật tự! Đây là sự cố thiên tai khách quan! Do thời tiết nồm ẩm bất thường của vùng đồng bằng ven sông Đáy! Ban quản trị chúng tôi đã làm đúng quy trình, thực hiện nghiêm túc nghị quyết phân phối và lưu kho của huyện ủy!”
Một bác nông dân lớn tuổi trong Đội 1 bức xúc hét to:
“Chủ nhiệm nói thế mà nghe được à? Thiên tai cái gì! Mấy hôm trước trời nồm, chúng tôi đã bảo mở cửa sổ thông gió cho thoáng khí, các ông cứ khăng khăng đòi niêm phong khóa chặt để giữ chỉ tiêu thi đua kho mẫu! Bây giờ bốc khói ngùn ngụt thế này, mấy chục tấn giống hỏng hết thì lấy gì mà gieo mạ vụ chiêm?”
Bị chọc trúng chỗ nhược, ông Khoát trừng mắt, đập mạnh chiếc loa sắt vào cột đình kêu đánh “chát”:
“Đồng chí đừng có mà ăn nói hàm hồ, chụp mũ cán bộ! Nguyên tắc bảo quản tài sản xã hội chủ nghĩa là phải bảo mật, chống thất thoát, chống chuột bọ phá hoại và kẻ gian phá hoại! Tôi làm theo đúng điều lệ chỉ đạo từ trên xuống! Trách nhiệm này là do ai? Là do tổ bảo vệ và Đội ba làm ăn tắc trách, khâu nhập kho không kiểm tra kỹ lưỡng!”
Giữa lúc ông Khoát đang điên cuồng trút giận và tìm cách đổ lỗi, một bóng người cao lớn từ trong làn sương đêm sải bước dài tiến thẳng lên bậc thềm đá.
Đó là Trần Bình.
Anh chỉ mặc độc một chiếc áo sơ mi quân phục màu cỏ úa đã bạc trắng ở hai bờ vai, ống tay áo xắn cao để lộ đôi cánh tay rắn rỏi gân guốc. Dù một bên chân bước đi có phần khập khiễng vì di chứng mảnh đạn năm xưa, nhưng từng bước chân của anh nện xuống mặt đá xanh lại vững chãi như bàn thạch. Khuôn mặt góc cạnh sạm màu nắng gió của người lính chiến trường Tây Nam đanh lại, đôi mày rậm chau chặt, toát ra một uy lực khiến đám đông đang ồn ào bất giác dạt ra hai bên nhường lối.
Bình không thèm liếc nhìn chiếc loa sắt trên tay ông Khoát, anh đi thẳng tới trước cánh cửa kho lim nặng trịch đang bị khóa chặt bằng hai ổ khóa gang to tướng cùng dải giấy niêm phong đỏ chót đóng dấu của Ban quản trị.
“Anh Cần đâu! Đưa chìa khóa đây!” Tiếng Bình trầm, vang và dứt khoát như một mệnh lệnh thép nơi chiến hào.
Anh Cần lúng túng nhìn Bình rồi lại liếc trộm ông Khoát, hai tay run lẩy bẩy:
“Anh... anh Bình... Chú Khoát bảo...”
“Tôi bảo đưa chìa khóa!” Bình gằn giọng, ánh mắt sắc lẹm xoáy thẳng vào người giữ kho.
“Đồng chí Trần Bình! Đồng chí định làm cái gì đấy hả?” Ông Bùi Đắc Khoát nhảy dựng lên, bước vội tới chắn trước then cửa, chiếc bút máy cài túi áo suýt nữa thì rơi ra ngoài. “Đây là kho thóc giống dự trữ quốc gia của toàn xã! Đang có dấu hiệu hư hại nghiêm trọng, phải giữ nguyên hiện trường! Tôi đã cử người lấy xe đạp thồ hỏa tốc lên thị trấn báo cáo Phòng Nông nghiệp huyện. Khi nào có cán bộ kỹ thuật và đoàn kiểm tra liên ngành của huyện về lập biên bản, mở niêm phong thì mới được xử lý! Đồng chí tự tiện phá khóa, làm sai lệch hiện trường, tội ấy đồng chí có gánh nổi trước Huyện ủy không?”
Nghe những lời giáo điều quan liêu đến nực cười ấy, lồng ngực Bình phập phồng dữ dội. Anh tiến lên một bước, áp sát Chủ nhiệm Khoát. Chiều cao vượt trội cùng khí thế của người từng vào sinh ra tử khiến ông chủ nhiệm bất giác lùi lại nửa bước, miệng lắp bắp.
“Báo cáo đồng chí Chủ nhiệm!” Bình nói từng từ một, âm lượng không gắt gỏng nhưng sắc lạnh như dao cạo. “Từ đây lên huyện mất hơn mười lăm cây số đường đất lầy lội sương mù. Cán bộ huyện bận họp hành, sớm nhất cũng phải chiều mai hoặc ngày kia mới xuống tới nơi. Đến lúc các đồng chí ấy mang được cái biên bản về đây thì cả trăm cót thóc giống này đã thành một đống cám thối, thành tro rơm bốc cháy rồi! Lúc ấy biên bản của đồng chí có đem ra ngâm nước cho xã viên ăn no được không? Có đem gieo xuống đồng Đầm Lội cho mọc thành bông lúa được không?”
“Đồng chí... đồng chí vô tổ chức, vô kỷ luật...” Mặt ông Khoát chuyển từ đỏ sang tím ngắt, ngón tay run run chỉ vào mặt Bình.
“Tôi là Đội trưởng Đội sản xuất số ba, người trực tiếp nhận khoán vụ lúa chiêm này!” Bình dứt khoát ngắt lời, giọng anh vang rền khắp sân đình, át cả tiếng gió bấc thổi qua tán đa cổ thụ. “Nếu hạt giống trong kho này hỏng do tôi tự tiện mở cửa cứu vãn, tôi xin chịu kỷ luật cách chức, chịu ra tòa án nhân dân huyện! Còn bây giờ, cứu giống là cứu mạng dân làng! Dân quân Đội ba đâu, lên đây phá khóa cho tôi!”
Lời nói của Bình như một mồi lửa châm vào lòng căm phẫn và tuyệt vọng của những người nông dân chân lấm tay bùn. Hàng chục thanh niên trai tráng trong Đội 3 lập tức hò reo hưởng ứng:
“Phá khóa đi! Cứu lấy giống lúa bà con ơi!”
“Nghe anh Bình! Mở cửa ra nhanh lên!”
Không đợi anh Cần run rẩy tra chìa vào ổ, Bình đã bước tới, giật lấy chiếc xà bén bằng sắt đặc từ tay một anh dân quân bên cạnh. Bằng một động tác dứt khoát, anh chèn đầu sắt vào khe then cài, gồng đôi vai vạm vỡ giật mạnh một tiếng “rắc”. Dải giấy niêm phong rách toạc làm đôi, chiếc then gỗ lim bật tung ra, để lộ khe cửa tối om đang cuồn cuộn phả ra từng đợt khí nóng nực dị thường.
Bình cùng hai thanh niên lực lưỡng đẩy phăng hai cánh cửa gỗ lim sang hai bên.
“Ầm!”
Ngay khoảnh khắc cánh cửa bật mở, một luồng khí nóng ẩm khổng lồ kèm theo mùi chua nồng nặc, ngột ngạt tựa như mùi men rượu hỏng pha lẫn mùi rơm rạ mốc thốc thẳng ra ngoài. Đám đông đứng gần bậc thềm ho sặc sụa, nhiều người phải lùi lại mấy bước, ôm mặt nôn thốc nôn tháo vì thứ không khí ngột ngạt đặc quánh.
Từ bên trong gian kho tối tăm, dưới ánh sáng vàng vọt của những ngọn đuốc, từng làn khói trắng nhờ nhờ bốc lên nghi ngút từ các bồ ngô và cót thóc giống cao quá đầu người. Hơi nước ngưng tụ trên những thanh xà gồ mái ngói nhỏ xuống tí tách như một cơn mưa phùn ẩm ướt.

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…