Bản Khắc Gỗ Thị Nở Hoa Trên Giấy Điệp
Chương 7: Lần Theo Bãi Bồi Gò Sòi
Lời đe dọa the thé của gã tay sai vừa dứt, tiếng bước chân huỳnh huỵch nện mạnh lên lớp lá chuối khô ngoài ngõ rồi xa dần về phía bến sông. Căn nhà tranh ba gian lại chìm vào sự tĩnh mịch đặc quánh của đêm đông.
An vẫn nép sát vách nứa gian đông, ngực phập phồng đập mạnh từng hồi. Đôi tay quấn lớp vải nâu sồng ủ lá nhọ nồi khẽ siết chặt, mép vải cọ vào vết thương rách da thịt khiến cậu bé khẽ rùng mình vì đau nhói. Cậu quay đầu nhìn vào bóng tối, nơi cụ Nhượng vẫn ngồi sừng sững trên chõng tre như một pho tượng đá cổ kính bên sông Đuống. Ánh mắt cụ cố qua màn đêm mờ mịt vẫn sáng quắc, vẻ điềm đạm lạ lùng.
— Chúng nó đi rồi, chắt An. Khép cánh then lại rồi ngả lưng đi con.
Giọng cụ Nhượng trầm ấm, phẳng lặng như khúc sông mùa cạn, xua tan nỗi sợ hãi đang dâng lên trong lòng đứa trẻ mười hai tuổi. An rón rén bước tới cài chặt then cửa liếp nứa, rồi trở về chiếc chõng tre nhỏ góc nhà. Ngoài trời, tiếng gió bấc rít từng cơn qua rặng tre ngà, quăng quật mái rạ kêu răng rắc suốt canh tư.
Trời vừa tang tảng mờ sáng, khi sương mù sông Đuống còn giăng trắng đục như một dải lụa khổng lồ trùm kín những rặng nhãn ven đê, An đã khẽ khàng cựa mình thức giấc. Hơi lạnh luồn qua khe liếp buốt nhói từng ngón chân. Cậu bé với lấy manh áo nâu vá vai phong phanh mặc vào người, cẩn thận xỏ đôi dép bện rơm nếp dày dặn vừa khít bàn chân. Vết rách nơi mu bàn tay sau một đêm ngấm dịch nhọ nồi và muối hột đã se miệng, dù mỗi lần cử động mạnh vẫn còn nhức buốt.
Cụ Nhượng đã dậy từ lúc nào, lặng lẽ đứng bên cối đá nghiền điệp ngoài hiên. Cụ mặc áo tơi lá, thắt chiếc lưng bao bằng vải thô, một tay chống cây gậy tre ngà bóng loáng, tay kia cầm hai chiếc đòn tre dẻo dai. Dưới chân cụ, hai lưỡi xẻng sắt đã được mài sắc cạnh, ánh lên màu thép lạnh ngắt.
— Chắt An, buộc chặt ống quần vào. Sương muối ngoài bãi độc lắm, sơ sểnh là cước chân ngay.
An ngoan ngoãn vâng dạ, lấy hai dải vải vụn buộc chặt gấu quần sát cổ chân. Cậu cúi xuống đỡ lấy hai chiếc xẻng sắt, buộc néo vào đầu chiếc đòn tre rồi thoăn thoắt ghé vai gánh lấy. Cụ cháu lẳng lặng mở cổng tre, men theo bờ rào dâm bụt đẫm sương tiến về phía cuối làng.
Con đường đất đỏ trơn trượt dẫn qua bãi đất trống đầu làng. Nơi ấy, rạp dập tranh bổi của Quản Lợi dựng bằng cọc tre và bạt nứa rách đang phả ra thứ khói đục ngầu, hôi hám. Vừa bước tới gần, một luồng mùi hôi nồng khét lẹt của bột than bùn tẩm lưu huỳnh sực vào mũi khiến An ho sặc sụa, cổ họng rát buốt như có ai cào xé. Dưới mái bạt dột nát, ngọn đèn dầu lạc leo lét soi rõ mười mấy bóng người đang cặm cụi giã bột, quét hồ.
Tiếng cằn nhằn cay đắng của cánh thợ nghèo vang lên lẫn trong tiếng chày gõ:
— Giấy thì bở rục như bã trầu, quết vôi vào trắng bợt mà rách tươm... Thế này thì tranh với ảnh cái nỗi gì!
— Ráng mà dập cho xong trăm tờ lấy tiền đong gạo, bác nó ơi. Mùi lưu huỳnh này ngửi một khắc là mắt hoa, đầu váng vất... Khốn nạn cái thân làm thợ!
An nhìn thấy bóng bác Phó Cả Dần ngồi thu mình ở góc rạp. Đôi bàn tay bác đỏ ửng từng mảng phồng rộp, nứt nẻ rớm máu vì ngâm trong vại than bùn, đang run rẩy gạt từng nét mực đen nhờ nhờ lên mặt giấy bổi. Bác Dần chợt ngước lên, bắt gặp ánh mắt trong veo của An và dáng lưng còng quắc thước của cụ Nhượng đang đi lướt qua ngoài màn sương. Người thợ già giật mình đánh thót, vội vàng rụt hai bàn tay đau đớn vào trong bọc áo, cúi gằm mặt xuống đống rơm mục, bờ vai vạm vỡ khẽ run lên từng chặp.
Cụ Nhượng không dừng chân, bước đi của cụ vẫn nhịp nhàng, vững chãi. Cụ khẽ bảo chắt nội:

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…