Bản Khắc Gỗ Thị Nở Hoa Trên Giấy Điệp
Chương 9: Gió Lạnh Và Lòng Người
Mũi gậy bọc sắt của hai tên tuần đinh chọc mạnh xuống bùn non, phát ra những tiếng thụt lầy lội bì bõm. Hai gã tiến sát mép hố đào, hơi thở phì phò phả ra từng luồng khói trắng đục giữa màn mưa phùn giá rét. Tên đi đầu có vết sẹo dài bên gò má, cất giọng the thé át cả tiếng sóng sông Đuống:
— Đứng yên đấy! Cụ Biền, ai cho phép cụ cháu nhà cụ tự tiện vác cuốc xẻng ra đào bới ở doi đất này? Lý trưởng vừa phát lệnh, bãi bồi gò Đống Sòi là đất công của làng, gốc cây chìm dưới bùn cũng thuộc quyền bản hạt trông nom. Mau buông tay mà về làng, chớ có ngoan cố!
Thằng An giật mình, theo phản xạ lùi lại nửa bước sau lưng cụ cố, đôi tay quấn mảnh vải nâu sồng ủ lá nhọ nồi khẽ siết chặt lấy chiếc cán xẻng sắt ướt lạnh. Vết thương cọ vào thớ gỗ làm thằng bé nhói buốt, nhưng đôi mắt tròn xoe vẫn quắc lên nhìn hai kẻ vừa xông tới.
Cụ Biền Duy Nhượng chậm rãi buông thanh đòn tre già xuống mép bùn, đứng thẳng người dậy. Lưng cụ hơi còng vì gánh nặng gần chín mươi năm cuộc đời, nhưng bờ vai gầy guộc dưới manh áo nâu sồng vá chằng vá đụp vẫn vững vàng như một gốc lim già đứng chắn trước mặt chắt nội. Đôi mắt cụ tinh anh lạ thường, bình thản nhìn thẳng vào khuôn mặt bặm trợn của gã tuần đinh cầm gậy bọc sắt. Cụ vuốt lại chòm râu cước ướt đẫm nước mưa, giọng trầm ấm, rành rọt vang lên giữa khoảng không buốt giá:
— Chú nó nói vậy là chưa hiểu lệ làng rồi. Từ đời ông cố của Lý trưởng Đặng Khoái còn chưa sinh ra, làng Mái ta đã lập khoán ước khắc trên bia đá đình làng. Đất bãi bồi tuy thuộc bản thôn, nhưng mộc bản thờ tổ và tượng thần nếu bị hư hao thì thợ cả trong làng có toàn quyền lặn lội tìm vớt gỗ ngâm vô chủ về đục lại. Hương ước bốn giáp còn ghi rõ: người giữ nghề vì việc chung của đình miếu, tuần đinh không được phép cản trở, trái lệ ấy là đắc tội với tiền hiền.
Gã tuần đinh có vết sẹo ngẩn người, cây gậy bọc sắt trong tay khẽ hạ xuống nửa tấc. Gã liếc nhìn sang tên đồng bọn đi bên cạnh, ánh mắt thoáng chút bối rối. Cụ Cả Mái là bậc thượng thọ tám mươi tám tuổi, cả tổng Thuận Thành ai nấy đều kính cẩn nghiêng mình mỗi bận cụ bước qua cổng làng. Ngay cả cha chú của bọn tuần đinh ngày giỗ chạp cũng phải sang khấu đầu chúc thọ cụ.
Cụ Nhượng tiến lên một bước, mũi bàn chân giẫm trên lớp bùn xám quánh, giọng khoan thai nhưng đanh thép:
— Hai chú nó vâng lệnh ai sai bảo thì cụ đây hiểu rõ. Nhưng chú nó về thưa lại với bác Lý rằng, lão già này đào gốc thị ngàn năm này lên không phải để xẻ ván đóng giường đóng tủ đem bán trục lợi, mà là để tạc lại bộ ván in “Vinh Hoa Phú Quý” dâng vào đình làng rằm tháng Chạp này. Nếu chú nó muốn tịch thu, cứ việc bước xuống đây khiêng thân gỗ về dâng cho anh lái Lợi đem đi làm củi đun!
Những lời thấu tình đạt lý ấy như những nhát búa nện thẳng vào tâm can hai tên tuần đinh. Tên đi sau kéo khẽ vạt áo gã có vết sẹo, lấm lét thì thầm:
— Thôi anh sẹo ơi... Cụ Cả nói trúng khoán ước của làng rồi. Động vào việc phục dựng ván tổ của cụ, làng nước mà biết thì họ đuổi cả họ nhà mình ra khỏi giáp mất.
Gã tuần đinh có vết sẹo nuốt khan một ngụm nước bọt, mặt đỏ gay vì ngượng ngùng xen lẫn sợ hãi. Gã ấp úng chĩa mũi gậy xuống đất, lí nhí buông một câu gượng gạo:
— Cụ... cụ đã nói thế thì chúng con về bẩm lại với thầy lý. Có bề nào thầy lý thân chinh ra đây thì cụ chớ trách chúng con không báo trước.
Nói đoạn, hai tên tuần đinh lúng búng quay gót, cắm đầu cắm cổ rảo bước trên bãi cỏ lác ướt sũng, vội vã chạy ngược lên con đê làng Mái để về báo lại đầu đuôi cho Quản Lợi và Lý trưởng.
Màn mưa phùn mỗi lúc một dày thêm, phủ mờ bóng lưng hai tên lính lệ. Bãi gò Đống Sòi lại chìm vào khoảng không hoang vắng, chỉ còn tiếng gió rít qua rặng ngô cằn cỗi và tiếng sóng vỗ ì oạp vào mép bờ.
Thằng An thở phào một hơi dài, buông thõng bờ vai căng cứng. Thằng bé ngước nhìn cụ cố, giọng cảm phục:

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…