Bàn Tay Nặn Lại Cột Mốc Thời Gian
Chương 11: Vết Thương Bả Vai
Từng thớ thịt nơi bả vai trái của ông Khiêm co giật từng chập theo cơn nhức buốt thấu xương. Mùi dầu mù u ngai ngái quyện với hương trầu không cay nồng xông lên mũi, nhưng cái rát bỏng ngoài da chẳng thấm tháp gì so với nỗi xót xa đang dâng nghẹn trong lồng ngực khi ông nhìn xuống đôi bàn tay run rẩy của bà Lài.
Bà lão chín mươi lăm tuổi ngồi bẹp dưới sàn đất nện sát mép chõng tre, hai cánh tay khẳng khiu run run bưng chiếc chén sành sứt mẻ đựng dầu thuốc. Những giọt nước mắt đục mờ vì tuổi tác cứ thế lăn dài, rớt tí tách xuống vạt áo bà ba vá chằng vá đụp. Mỗi lần ngón tay thím Ba Đực chấm miếng bông gòn thấm dầu đè nhẹ lên vết rách da bầm tím, bà Lài lại run bắn người, miệng mếu máo như con nít:
“Đau… anh đau dữ hôn Khiêm? Tại tui hết trơn… Phải chi tui đừng lú lẫn bước ra mé rào, anh đâu có bị khúc cây đập trúng…”
Ông Khiêm cố nén một hơi thở dốc, gượng cong khóe môi tạo nụ cười hiền hậu. Bàn tay phải thô ráp còn vương bụi vôi vữa của ông khẽ nâng lên, phủ lấy mu bàn tay lạnh ngắt của bà, ngón tay cái nhẹ nhàng miết lên vết sẹo hình chiếc lá nơi cổ tay người thương.
“Cô Lài đừng khóc nữa đa, nước mắt rớt trúng vết thương làm xót đó nghen. Chút trầy da tróc thịt này ăn thua gì với thằng thợ hồ leo giàn giáo năm xưa. Tôi khỏe re hà, cô coi nè.”
Nói đoạn, ông toan nhấc vai trái lên để chứng minh, nhưng một luồng đau nhói từ khớp xương xông thẳng lên thái dương khiến mày ông nhíu chặt, trán rịn ra một tầng mồ hôi hột.
“Trời đất quỷ thần ơi, cụ Bảy nằm im giùm con một cái!” Thím Ba Đực vội la lên, tay thoăn thoắt chấm thêm dầu trầu xoa vòng quanh vết sưng bầm to bằng miệng chén. “Khúc đòn tay mù u nặng trịch đó mà nện trúng bả vai người già cả, không gãy xương là nhờ ơn trên che chở dữ lắm rồi. Cụ ráng chịu rát một lát, trầu không với dầu mù u này rút máu bầm mau lắm.”
Bên ngoài cửa liếp, tiếng bước chân bì bõm dẫm trên đất bùn mỗi lúc một dồn dập. Bác Bảy Cảnh tay cầm chiếc mõ tre mòn vẹt, cùng mấy vị cao niên râu tóc hoa râm trong xóm và đám thợ hồ Tân Quy Đông lục tục kéo vào, đứng chật kín cả gian chòi hẹp. Gương mặt ai nấy đều hằn sâu nỗi âu lo, phẫn uất.
Sáu Thuyền đứng ngay đầu chõng, chiếc dầm chèo gỗ sao dựng sát vách nứa, hai nắm đấm siết lại kêu răng rắc. Anh ngó quanh xóm giềng rồi nhìn vết thương của ông Khiêm, giọng rổn rảng nhưng nghẹn ngào:
“Thằng Ký Bửu khốn nạn thiệt chớ! Nó cậy thế cậy quyền, xua quân đập phá chòi của bà Dì rồi còn giở giọng hăm he. Nó thề đúng ba ngày nữa sẽ bẩm quan Tỉnh, kéo lính tập mang súng lớn xuống càn quét, san bằng hai mươi bảy nóc nhà Cái Rơm này thành bình địa. Bác Bảy ơi, bà con mình giờ như cá nằm trên thớt, ba ngày ngắn ngủi biết tính ngả nào đây bác?”
Bác Bảy Cảnh thở dài sườn sượt, gõ nhẹ chiếc dùi cui vào thành mõ:
“Nghe đâu thằng Chệt Lợi bên Chợ Lớn đã chung tiền cọc cho Sở Công chính rồi. Lính tỉnh mà kéo xuống, súng ống lăm lăm thì dân tay không tấc sắt làm sao cự nổi? Chẳng lẽ xóm phà này chịu mất đất, tan đàn xẻ nghé thiệt sao trời?”
Không khí trong căn chòi chùng xuống, chỉ còn tiếng gió chướng đầu mùa thổi qua vách lá xào xạc và tiếng sụt sùi khe khẽ của bà Lài.
Nhìn bà con chòm xóm đang hoang mang đến tột cùng, ngọn lửa nghề nghiệp và lòng trượng nghĩa bao năm trong lồng ngực người thợ già bỗng bùng cháy dữ dội. Ông Khiêm vịn tay vào giát tre, gạt đi bàn tay đang can ngăn của thím Ba Đực, gượng người ngồi dậy dựa lưng vào vách phên nứa. Dù sắc mặt còn nhợt nhạt vì đau đớn, nhưng đôi mắt ông vẫn sáng quắc, quắc thước lạ thường.
“Thằng Sáu, lại đây với tôi.” Ông Khiêm cất giọng trầm đục, từng lời rành rọt xua tan vẻ ủ dột trong chòi.
Sáu Thuyền vội quỳ một gối xuống cạnh chõng:
“Dạ, con nghe đây bác Bảy.”

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…