Bàn Tay Nặn Lại Cột Mốc Thời Gian
Chương 13: Đóa Hoa Sen Non
Mảnh đá vôi vỡ vụn trơ khấc dưới đáy hố bùn sâu như giội một gáo nước lạnh buốt vào lòng đám người đang hừng hực hy vọng. Tiếng reo hò tắt ngấm, chỉ còn tiếng thở dài sườn sượt của bác Bảy Cảnh và tiếng nước rỉ róc rách từ vách đất sạt lở.
Sáu Thuyền quỳ chết trân dưới đáy hố, hai bàn tay dính đầy sét xanh buông thõng, bờ ngực trần phập phồng nghẹn uất:
“Hổng… hổng phải rồi bác Bảy ơi! Đá vôi gãy vụn, hổng có hoa sen… Trời đất ơi, rốt cuộc mốc xưa nằm ở xứ nào?”
Đám trai tráng đứng trên miệng hố bối rối ngó nhau, mặt mày ai nấy xám xịt như tro tàn bếp nguội. Giữa cảnh hụt hẫng đang chực trùm lấy xóm nghèo, ông Khiêm vẫn đứng vững chãi bên mép hào, bàn tay gầy gò nén cơn nhức nhối nơi bả vai trái bị thương, giọng trầm ấm vang lên rành rọt:
“Đừng có nản lòng, mấy đứa. Mảnh đá này là dấu cọc phụ phân ranh gò cao của ty đo đạc cũ hồi đầu thời thuộc địa. Có cọc phụ thì chắc chắn Cột mốc số Ba nằm quanh quẩn đâu đây thôi. Đất bồi mấy mươi năm, triều dâng cuốn xoáy thì mốc lớn phải lún sâu hơn chừng nửa trượng. Nước ròng sắp kiệt rồi, trời cũng gần hưng hửng sáng, tụi bây lấp tạm miệng hố kẻo nước triều lên cuốn trôi chân đất, rồi về nghỉ ngơi lấy sức.”
Lời dặn dò bình thản mà chắc nịch của ông lão bách nghệ tựa như chiếc phao níu giữ sự hoang mang của mọi người. Sáu Thuyền gạt mồ hôi trán, lẳng lặng cùng đám thanh niên xúc đất lấp lại miệng hố để giấu dấu vết.
Khi phương đông vừa hé rạng những vệt sáng màu lòng đỏ trứng gà, ông Khiêm chầm chậm dắt bà Lài trở về căn chòi lá bên vàm rạch Cái Rơm. Bước chân bà lão chín mươi lăm tuổi run rẩy khập khiễng, gió bấc thổi qua chòi lá làm bà lên cơn ho rút ruột, từng cơn ho rũ rượi khiến tấm lưng còng gập hẳn xuống.
Đỡ bà ngồi lên mép chõng tre, ông Khiêm lập tức đến bên chiếc hỏa lò đất nung. Ông thổi bùng mớ than đước còn âm ỉ từ tối qua, đặt siêu nước nhỏ lên bếp, rồi lấy nhánh gừng già đập dập thả vào cùng miếng đường phèn tán vụn. Làn khói trắng mỏng manh mang theo vị cay nồng tỏa ra, xua bớt cái giá buốt ẩm ướt của đêm dầm sương nơi mé nước.
Rót nước gừng ra chiếc chén sành sứt miệng, ông Khiêm bưng lại mé chõng, cẩn thận ghé môi thổi nhè nhẹ cho bớt nóng rồi đưa tới tay bà Lài:
“Uống miếng nước gừng ấm này đi cô Lài, cho nó ấm cái tỳ vị, dằn cơn ho xuống đa.”
Bà Lài đón lấy bát nước bằng hai bàn tay khẳng khiu như cành củi khô. Bà nhấp từng ngụm nhỏ, hơi ấm lan tỏa làm sắc mặt nhợt nhạt dần hồng hào trở lại. Thế nhưng, đôi mắt đục mờ của bà lại ngơ ngác nhìn ra phía rào dâm bụt trơ trọi. Ngoài bờ sông, tiếng xì xào bàn tán của mấy nhà sàn hàng xóm cùng tiếng hò hét đòi đất của đám tay sai vẳng lại từ hôm qua dường như vẫn còn ám ảnh tâm trí già nua.
“Họ… họ đem súng ống búa tạ lại đập nhà nữa hả chú thợ?” Bà Lài run rẩy hỏi khẽ, ngón tay run bần bật nắm chặt lấy gấu áo bà ba sứt chỉ. “Tui… tui sợ lắm… Hổng biết trốn đi đâu…”
Chứng kiến người thương lại rơi vào cơn lẫn lộn sợ sệt như đứa trẻ lạc mẹ, ngực ông Khiêm nhói buốt. Ông biết rõ, nếu cứ để bà chìm trong nỗi hoang mang này, chứng bệnh tuổi già sẽ càng làm bà mau suy kiệt.
Ông khẽ mỉm cười, giọng dịu dàng như dỗ dành:
“Hổng có ai đập phá được đâu, cô Lài đừng có lo. Ở đây với tôi, tôi nặn bông sen cho cô ngó nghen.”

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…