Bàn Tay Nặn Lại Cột Mốc Thời Gian
Chương 14: Mưu Gian Ký Bửu
Tiếng thím Ba Đực hớt hải báo tin như hắt gáo nước lạnh vào bầu không khí ấm áp vừa nhóm lên trong gian chòi lá. Ông Khiêm vội buông tay bà Lài, chiếc bay sắt nhỏ đặt cẩn thận bên đóa sen non bằng vữa còn chưa kịp ráo mặt. Nhìn vẻ ngơ ngác, run rẩy của người bạn già lại dấy lên trong đôi mắt mờ đục, ông ôn tồn khuyên giải:
“Cô Lài cứ ngồi yên đây trông chừng đóa sen giùm tôi nghen, đừng sợ. Để tôi ra đầu bến coi sự tình ra sao.”
Vừa dứt lời, bóng Sáu Thuyền đã lù lù xuất hiện nơi bậu cửa. Gương mặt ngăm đen của anh chèo đò đanh lại, lồng ngực phập phồng giận dữ nhưng khi bước tới bên chõng tre, anh liền hạ giọng cung kính:
“Bác Bảy để con dìu. Thằng Ký Bửu nó làm càn dữ quá, nó muốn bóp chết cái xóm phà này thiệt rồi!”
Được Sáu Thuyền cẩn thận nương nách đỡ dậy, ông Khiêm nén cơn đau nơi bả vai trái còn sưng ê ẩm sau trận xô xát bữa trước, chầm chậm chống chiếc gậy tầm vông mòn bóng bước ra đầu bến. Nắng sớm vàng vọt rọi xuống khúc sông Cái Rơm, trải dài trên cảnh tượng hỗn loạn chưa từng có.
Lối xuống bến đò dọc thường ngày vốn tấp nập nay đã bị rào kín bởi những cọc sắt cắm chéo ghim chặt vào lòng đất thịt, bên trên giăng chằng chịt mấy lớp dây kẽm gai sắc nhọn. Bốn tên lính tập bồng súng trường đứng dàn hàng ngang, lưỡi lê tuốt trần sáng loáng dưới nắng mai. Phía ngoài bờ rào, mấy chiếc xuồng ba lá chở chuối xiêm, chuối cau vàng ươm cùng thúng bún tươi của thím Ba Đực và mớ rau cải của bà con xóm phà bị chặn đứng dưới mé nước ròng, không tài nào ghé bến để chuyển hàng lên chợ Cây Da Dầu. Tiếng đàn bà con nít khóc mếu, tiếng mắng mỏ uất nghẹn hòa cùng tiếng dầm gõ mạn thuyền vang động cả một khúc sông.
“Đò dọc là cần câu cơm của hai mươi bảy nóc nhà, mấy ông rào bít lại vầy thì con nít lấy gì bỏ bụng qua ngày?”
Một bà mẹ trẻ ôm đứa con nhỏ khóc rấm rứt gào lên, nhưng đáp lại chỉ là cái gạt phắt lạnh lùng từ báng súng của tên lính tập. Sáu Thuyền nghiến răng trét trét, hai bàn tay nắm chặt lấy dầm chèo gỗ sao chực lao tới, nhưng một bàn tay gầy guộc đầy vết chai sạn đã kịp đặt lên vai anh kìm lại.
“Khoan đã con, chớ nóng nảy mà thiệt thân.” Ông Khiêm điềm đạm cất tiếng, đôi mắt sáng quắc nhìn thẳng vào màn rào kẽm gai.
Đúng lúc ấy, từ phía ngã ba đường lộ đất đỏ, một chiếc xe kéo hai bánh bóng lộn vội vã lướt tới, bụi mù cuốn theo từng chặp. Phu xe vừa dừng chân, chiếc màn vải vén lên, Ký Bửu bệ vệ bước xuống. Bộ âu phục veste lụa đắt tiền thẳng thớm đối lập hoàn toàn với những tấm áo bà ba chắp vá của dân xóm nghèo. Hắn phe phẩy chiếc quạt xếp, tay lăm lăm cây ba-toong bịt bạc gõ “cộp, cộp” xuống mặt đường sỏi, cất giọng cười khẩy chát chúa:
“Chà chà, xóm Cái Rơm hôm nay xôm tụ dữ nghen! Mấy người tính làm loạn hay sao mà tụ tập la ó um sùm ở đây?”
Sáu Thuyền tức giận bước tới trước một bước, gằn giọng:
“Thầy Ký đừng có ỷ quyền hiếp đáp dân lành! Bến đò này mở từ hồi ông sơ ông cố, cớ sao thầy đem dây thép gai rào bít, ngăn đường mưu sinh của bà con?”
Ký Bửu nhếch mép, rung nhẹ đầu ba-toong bịt bạc, ánh mắt khinh khỉnh quét qua từng khuôn mặt lam lũ rồi dừng lại trên người ông lão trăm tuổi đang đứng tựa vào Sáu Thuyền. Hắn nhả từng lời trịch thượng:
“Qua làm việc theo công lệnh mở bến của Sở Công chính, đâu phải chuyện chơi! Đất này đã vào lộ giới quy hoạch bến thương hồ mới. Hạn chót qua cho dời nhà chỉ còn lại đúng một ngày mơi nữa thôi đa. Tới bữa đó, lính tỉnh đem súng lớn xuống san bằng bờ bãi, ráng mà chịu.” Hắn liếc xéo ông Khiêm, buông lời mỉa mai: “Lão già trăm tuổi kia, sống tới chừng này thì liệu đường mà dẫn mụ già còng lưng dời gót đi chỗ khác kiếm miếng đất cắm dùi, chớ ráng bám cái chòi rách coi chừng vùi thây theo đống bùn đất, uổng mạng già!”
Lời lẽ xấc xược ấy làm cả xóm phà sục sôi căm phẫn, nhiều cánh tay giơ đòn gánh lên chực xông vào. Nhưng ông Khiêm vẫn bình thản lạ lùng. Ông gạt nhẹ tay Sáu Thuyền, bước chậm rãi về phía hàng rào kẽm gai, dừng lại cách Ký Bửu chừng ba bước chân. Dáng đứng của ông tuy còng còng vì gánh nặng trăm năm sương gió nhưng khí sắc toát ra vẻ uy nghiêm khiến nụ cười trên mặt Ký Bửu bất giác sượng lại.
“Thầy Ký nói làm việc theo công lệnh, vậy cho lão già này coi qua tờ đồ bản trắc địa trên tay thầy một chút đặng mở rộng tầm mắt được hôn?” Giọng ông Khiêm trầm vang, từng tiếng rành rọt át cả tiếng gió sông.
Ký Bửu thoáng ngẩn người, rồi cười khẩy rút từ chiếc cặp da láng bóng ra một tờ giấy can vẽ mực xanh đỏ gấp làm tư:

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…