Bột Vôi Vỏ Sò Đổi Màu Đồng Phèn
Chương 8: Đắp Kênh Đón Nhịp Triều
Cụ Vân Chiêu Khôi bước vội ra mé mương, khom lưng lắng tai nghe ngóng. Đêm khuya thanh vắng, bốn bề chỉ còn tiếng than nổ lách tách từ ba bễ lò đất và tiếng gió thổi qua rặng phi lao. Tuyệt nhiên không còn tiếng róc rách của dòng nước ngọt chảy về, lòng mương tối om, mặt nước phẳng lặng đến rợn người. Dù linh tính báo điềm chẳng lành, cụ Khôi vẫn nén sự âu lo. Phía sau lưng cụ, ba bễ lò dã chiến đang cuồn cuộn bốc khói, ánh than hồng rực sáng bãi cát ven sông Hàm Giang. Vỏ sò bắt đầu ngấu nhiệt, lửa lò không được phép nguội lạnh dù chỉ nửa khắc.
Cụ quay lại dặn dò thím Hai Lành:
“Thím Lành cùng các bác trông nom cửa gió. Cứ cách một tuần hương lại cời tro đáy bễ, thêm cành phi lao và rễ đước giữ ngọn lửa thở đều. Vỏ sò phải ủ đủ nhiệt qua đêm nay thì mai mới rã thành vôi bột trắng xốp được.”
Thím Lành siết thanh cời củi, kiên định đáp:
“Cụ cứ yên lòng! Chị em chúng con thức trắng canh lửa, quyết không để nguội một tàn than!”
Giao xong việc giữ lò, cụ Khôi quay sang bảo Trần Chấn:
“Lò ủ cần thời gian, ta không thể ngồi chờ suông. Chấn, con dẫn anh em vác cuốc xẻng ra ba mẫu ruộng sau lều thím Lành, xẻ mương đắp bờ trước khi con nước triều sớm mai tràn vào cửa Hàm Giang.”
Đoàn người đốt đuốc nứa, theo bước cụ Khôi ra vạt ruộng phèn. Dưới ánh đuốc bập bùng, ba mẫu đất trũng hiện ra hoang tàn, vũng nước đọng đỏ quạch như máu trâu nổi váng gỉ sắt vàng ệch, cỏ năn còi cọc mọc trên nền đất chua nồng nặc mùi tanh rỉ.
Cụ Khôi nhặt cành tre vót nhọn, cắm mạnh xuống bùn rồi vạch những đường rãnh dứt khoát:
“Muốn hạt lúa cấy xuống sống được, trước tiên phải đả thông kinh mạch cho đồng đất, không thể để nước tù làm thối rễ mạ.”
Cụ chỉ cành tre vào sơ đồ vừa vẽ:
“Ngay chính giữa, ta đào mương trục rộng ba thước, sâu hai thước, trổ thẳng ra ngòi nhánh sông Hàm Giang. Từ mương trục này, cứ cách năm trượng lại xẻ những rãnh nhánh xiên chéo sang hai bên tỏa khắp mặt ruộng hệt như xương cá trích. Đất đào dưới mương xúc lên đắp bờ bao vững chãi chạy dọc bờ vùng bờ thửa.”
Trần Chấn chống cuốc sắt xuống bùn, ngắm nhìn nét vẽ:
“Cụ ơi, xưa nay dân mình chỉ quen đắp bờ vuông giữ nước mưa, sao cụ lại bắt xẻ mương rãnh ngang dọc chằng chịt thế này?”
Cụ Khôi ôn tồn giảng giải:
“Đó là vì bà con chưa thấu cái lẽ của trời đất. Sông Hàm Giang theo nhịp bán nhật triều, ngày hai lần nước lớn, hai lần nước ròng. Khi con nước ròng rút kiệt ra biển sâu, mặt sông hạ thấp, ta mở cống cho nước chua phèn và váng gỉ sắt trên ruộng theo rãnh xương cá đổ về mương trục, cuốn sạch ra biển lớn. Đến khi con nước lớn dâng lên, dòng ngọt thượng nguồn bị triều biển đẩy ngược dồn về, ta đóng cống xả, mở cống dẫn nước ngọt tràn vào thau rửa mặt ruộng. Ngày hai lượt nhịp nhàng, nước ngọt vào đuổi phèn, nước mặn ròng kéo độc đi xa, đất chua mấy cũng phải nhả hết độc mà nuôi cây lúa.”
Những lời khúc chiết của cụ Khôi như mở cờ trong bụng đám trai làng. Trần Chấn cười lớn một tiếng hào sảng:
“Chí lý! Cụ dạy chí lý lắm! Anh em ơi, vung cuốc lên nào!”
Trần Chấn cởi phăng chiếc áo nâu rách bươm vì gai cào, để lộ bờ vai vạm vỡ màu đồng hun cùng những thớ thịt cuồn cuộn, đôi bàn tay trầy xước vẫn siết chặt cán cuốc. Anh cắm phập lưỡi cuốc sắt xuống bùn, vồng lên từng tảng đất sét nặng trịch. Trai tráng hai xóm lập tức tỏa ra các luống, tiếng cuốc bập bập chan chát vang rộn cánh đồng đêm.
Mùi bùn phèn chua khé cổ bốc lên nồng nặc, nước gỉ sắt bắn tung tóe lên da thịt, nhưng không ai chùn bước. Người vỡ đất tạo lòng mương, người dùng xẻng vét bùn đắp bờ bao. Cụ Khôi chống gậy đi lại giữa các luống, chỉ dẫn chỗ nào cần khơi sâu cho dòng chảy xuôi thuận, chỗ nào cần nện đất bờ thật chặt để giữ nước thau rửa.

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…