Bụi Men Trấu Nung Lại Lòng Lư Sơn Hà
Chương 2: Nước Suối Đục Và Nắm Tro Rơm
Dư âm của tiếng chuông đồng lạnh lẽo dần tan vào màn sương xám ngắt dưới chân rặng Cửu Tiêu Linh Lĩnh, để lại khoảng thinh không nặng như chì đè lên lồng ngực những phận người phàm dịch. Bàn tay đang miết dở trên vành vạc Ngự Phong Úm của Đàm Cảnh Lân thoáng ngưng lại. Bên cạnh bàn xoay, bờ vai nhỏ của Thanh Nhụy khẽ run lên, đôi mắt con bé hoe đỏ nhìn chăm chú vào vạt áo chàm vá víu của ông nội.
“Ông ơi… ba ngày nữa thôi ư?” Giọng cô bé lạc đi, ngập ngừng như sắp khóc. “Vườn huyền sâm với cỏ linh thảo ngoài bãi còn non lắm, thiếu vạc chắn gió chướng thì chỉ cần một đêm sương muối là úa rũ hết. Lúc đó lấy gì nộp tô cho tiên môn…”
Cảnh Lân nhìn đôi mắt trong veo chan chứa nỗi âu lo của cháu gái, đáy lòng dâng lên niềm xót xa khôn xiết. Lão chậm rãi rút tay khỏi thành vạc, đưa lòng bàn tay thô ráp xoa nhẹ lên mái tóc tết hai bím của con bé, giọng trầm ấm như dòng suối chảy qua lòng đá:
“Chớ hoảng loạn, Nhụy nhi. Càng gặp lúc ngặt nghèo, tâm ta càng phải tĩnh như nước trong chum. Tiên môn ép sớm thì chúng ta phải chạy đua cùng trời đất. Chỉ cần hàn kín chiếc vạc Ngự Phong Úm này trước khi gió độc tràn qua khe núi, vườn dược thảo của bà con ắt sẽ bình yên vô sự.”
Lão nhìn về phía con đường đất nơi bóng lưng Lý Thập Lục vừa vội vã khuất sau rặng tre đực, rồi dứt khoát đứng dậy:
“Trấu lúa Hàn Chi đã có bác Thập Lục đi gom. Giờ hai ông cháu mình phải ra bến suối Đục đãi lớp bùn phù sa mịn nhất về phối chế men. Đi ngay khi sương chưa tan, bùn mới giữ trọn hàn khí ban mai.”
Thanh Nhụy hít sâu một hơi, vội quệt giọt nước mắt chực trào nơi khóe mi. Con bé thoăn thoắt xếp hai chiếc xô gỗ cùng chiếc xẻng tre cũ kỹ vào đôi sọt nứa, rồi bước tới đỡ lấy chiếc đòn gánh tre nhẵn bóng trên tay ông. Hai bóng người, một già một trẻ, lặng lẽ rời khỏi gian nhà tranh trong làn sương sớm bảng lảng.
Con đường mòn dẫn xuống bến suối Đục ngoằn ngoèo rải đầy sỏi vụn và mảnh xỉ than vỡ sắc nhọn. Nước suối Đục chảy lững lờ dưới đáy vực sâu, mang màu nâu sẫm của đất rừng và hơi lạnh buốt giá rỉ ra từ các vỉa đá cổ. Thông thường, lớp bùn non đóng ven bờ suối rất dễ bị lẫn cát thô và tạp chất từ phế liệu luyện đan mà tiên tông xả xuống. Nếu dùng thứ bùn pha tạp ấy làm men nung, khi gặp lửa lò, men sẽ bị sủi bọt khí rồi nứt toác, chẳng thể nào ôm khít lấy cốt gốm già cỗi.
Đứng trên mép bờ trơn trượt, Cảnh Lân nheo mắt nhìn dòng nước cuộn xoáy lờ đờ, toan xắn ống quần bước xuống thì Thanh Nhụy đã nhẹ nhàng kéo vạt áo ông lại:
“Ông nội để cháu. Chân ông mùa này hay nhức mỏi, đừng ngâm nước lạnh.”
Nói đoạn, cô bé cởi đôi dép cỏ, thoăn thoắt bước xuống mép nước lạnh ngắt. Đôi chân trần nhỏ nhắn khẽ rùng mình trước cái buốt giá đầu ngày, nhưng ánh mắt con bé lập tức chăm chú lạ thường. Thanh Nhụy quỳ gối trên tảng đá phẳng, nhắm hờ hai mắt rồi từ từ nhúng cả hai bàn tay xuống dòng nước lững lờ.
Đứng trên bờ, Cảnh Lân dõi theo từng cử chỉ của cháu gái. Lão biết rõ, từ thuở lên năm, đứa trẻ mồ côi này đã bộc lộ bẩm sinh Linh Giác Ôn Nhuận kỳ lạ. Mỗi khi chạm vào đất đá hay đồ gốm, đầu ngón tay con bé có thể thấu suốt được mạch rạn và cảm nhận được độ ẩm sâu kín ẩn tàng bên trong.
Dưới làn nước lạnh căm, mười ngón tay Thanh Nhụy khẽ ve vuốt lớp bùn đáy suối. Lông mày con bé khẽ nhíu lại rồi nhanh chóng giãn ra, khóe môi hé một nụ cười rạng rỡ:
“Ông ơi! Phía dưới rễ cây liễu dại kia kìa! Chỗ ấy có một mạch bùn lắng sâu dưới hốc đá, không hề dính chút vụn xỉ nào, mịn mượt mà mát lạnh lắm ạ!”
Cảnh Lân mỉm cười hài lòng, lập tức xách xẻng tre lội xuống vị trí con bé vừa chỉ. Quả nhiên, khi mũi xẻng cắm sâu xuống tầng bùn dưới hốc rễ liễu, một khối bùn màu xám chì dẻo quánh, trơn bóng như mỡ gà dần hiện ra. Từng mảng bùn ngậm hàn tính thuần khiết được hai ông cháu nhẹ nhàng vớt lên, đãi qua lớp rổ xảo sợi nhỏ để lọc sạch cọng rác mục rồi trút đầy vào hai chiếc xô gỗ.
Khi hai ông cháu quảy gánh bùn tươi trở về đến Đàm Gia Diêu thì vạt nắng sớm đầu tiên vừa rọi qua kẽ liếp. Trước cổng rào nứa, một cảnh tượng khiến lòng Cảnh Lân rung lên từng nhịp ấm áp.
Không chỉ có một mình Lý Thập Lục, mà cả chục bà con phàm dịch trong xóm núi đã tề tựu đông đủ tự bao giờ. Người gánh đôi thúng tre, kẻ cắp theo bao tải gai, có thím còn ôm chặt chiếc mẹt phủ kín vải chàm. Ai nấy mặt mày đều lấm lem tro bụi sau một đêm thao thức vì lệnh nộp tô, nhưng ánh mắt nhìn về phía lò gốm đất đều ngập tràn hy vọng.
Thấy bóng dáng Cảnh Lân, Lý Thập Lục vội vã chạy lại đỡ lấy đòn gánh bùn trên vai lão, giọng oang oang sang sảng:
“Cụ Đàm! Nghe cụ bảo cần vỏ trấu lúa Hàn Chi Thần Cốc để luyện men cứu vạc, con chạy đi hô hào một tiếng là bà con xúm lại ngay! Nhà bớt một đấu, xóm gom một thúng, trấu này là lúa vụ trước phơi khô rang trên gác bếp, hạt nào hạt nấy sạch bong, không lẫn một hạt cát!”

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…