Búp Trà Móc Câu Đợi Người Dưới Phố

Chương 10: Tấm Thư Trong Di Cảo

Cơn gió bấc thốc qua rặng cau ven sông Đáy, đập mạnh vào cánh cửa sổ gỗ lim ken dày khiến từng then cài rung lên bần bật. Tiếng mưa phùn rả rích hòa cùng tiếng chuông đồng hồ cổ điểm từng nhịp chậm rãi giữa căn nhà năm gian u tịch. Ngồi bên chiếc phản gỗ kê sát góc buồng, ngón tay Lê Thu Cúc run rẩy lật từng nếp giấy mục mủn trong chiếc rương gỗ mít xỉn màu.

Hương gỗ cũ nồng nàn mùi gián quyện với ẩm mốc phả lên cay xè sống mũi. Đôi mắt cô hoe đỏ, lồng ngực thắt nghẹn từng cơn. Lúc chiều, sau cuộc gọi nghẹn ngào với Trình Hạo ở vùng chè Tân Cương, Thu Cúc đã một mực quỳ trước cửa nhà thờ họ xin phép các bác cho mở chiếc rương gia bảo cất giữ di cảo của ông cố ngoại để lại. Đáp lại tấc lòng của cô chỉ là sự lạnh lùng và những ánh mắt nghiêm khắc của các bậc cao niên.

"Cháu dừng tay lại ngay!"

Tiếng quát trầm đục của bác cả Nguyễn Văn Thuận vang lên từ ngạch cửa. Bác bước vào, mái tóc hoa râm búi ngược, nét mặt quắc thước đanh lại vì giận dữ. Đằng sau bác, hai người chú họ cũng chắp tay sau lưng, ánh nhìn nặng trĩu vẻ chê trách.

"Bác cả..." Thu Cúc khẽ ngẩng đầu, hai bàn tay vẫn che chắn trên nắp rương mở hé. "Cháu chỉ muốn tìm lại chút manh mối năm xưa. Người ta trên Thái Nguyên đang dốc cạn tâm lực sao chè, cụ Bách đã gần trăm tuổi rồi bác ơi..."

"Trăm tuổi thì sao?" Bác Thuận đập mạnh bàn tay xuống thành phản, giọng gay gắt: "Bảy mươi bảy năm trước, ai là kẻ đã để bà cố mày ôm con thơ chạy loạn giữa đêm pháo kích? Ai là kẻ gửi một lá thư tuyệt tình cay độc về làng, báo rằng đã say duyên mới nơi thành thị, để bà cố mày phải nuốt nước mắt vào trong, cắn răng chịu đựng bao lời đàm tiếu của họ hàng xóm giềng suốt mấy mươi năm? Nỗi nhục nhã và đắng cay ấy, mày là đứa con nít sinh thời bình thì hiểu làm sao thấu!"

Chú hai đứng bên cạnh cũng lắc đầu, thở dài não nuột:

"Cúc à, nghe lời các bác đi cháu. Cụ Nguyệt nay tuổi cao sức yếu, trí nhớ lúc nhớ lúc quên nhưng mỗi sớm mai vẫn phải nhấp ngụm chè đắng bằng chiếc chén sứt ấy để tự răn mình. Mối hận thù đời trước đã chôn sâu dưới đất, mày khơi lại làm chi cho lòng dạ người già thêm cồn cào rách xé? Khóa cái rương ấy lại mau!"

Nhìn ánh mắt căm phẫn đượm vẻ xót xa của những người thân trong họ, Thu Cúc hiểu rằng nỗi đau năm xưa không phải là sự cố chấp hẹp hòi, mà là vết thương rỉ máu của cả một gia tộc bị phụ rẫy thời loạn ly. Nhưng nếu cụ Bách thật sự bị oan, nếu bức thư kia là một sự lừa dối tàn nhẫn, thì để hai mái đầu bạc trắng mang theo u uất xuống suối vàng mới là tội lỗi lớn nhất.

Cô nuốt khan ngụm nước bọt mặn chát, ngước nhìn thẳng vào mắt bác cả:

"Cháu không hề muốn khơi lại nỗi đau của bà cố. Nhưng bác có bao giờ tự hỏi, nếu một người đàn ông bội bạc thật sự, liệu có thể nhớ từng chi tiết nhỏ về nếp uống trà của vợ, có thể nâng niu chiếc chén sứt suốt gần tám thập kỷ qua, và ở tuổi chín mươi chín vẫn bất chấp gió rét để đi tìm búp chè móc câu sao bằng tay trần hay không? Cháu xin bác, chỉ một lần này thôi. Nếu trong đống di cảo này chứng minh cụ Bách là kẻ bạc tình, tự tay cháu sẽ dập đầu tạ tội trước bàn thờ tổ tiên và không bao giờ nhắc đến chuyện này nữa!"

Lời lẽ gan ruột và ánh mắt kiên định ngấn nước của Thu Cúc khiến bác Thuận sững sờ. Đôi bàn tay gân guốc của người đàn ông đứng tuổi siết chặt lấy mép áo đũi rồi từ từ buông lỏng. Bác quay mặt nhìn ra khoảng sân gạch mờ mịt mưa bay, buông một tiếng thở dài ngao ngán:

"Tùy mày. Nhưng chỉ hết tuần nhang này thôi đấy."

Được sự ưng thuận ngầm, Thu Cúc không dám chậm trễ nửa giây. Cô cúi rạp người, cẩn trọng nhấc từng chồng gia phả viết bằng chữ Nho, những tờ khế ước ruộng đất từ thời Bảo Đại và các xấp thư từ phủ bụi thời gian. Đáy rương bọc một lớp vải điều đã phai màu, bên dưới cất giấu vài cuốn sổ bìa da sờn rách của người ông quá cố – người từng làm thư ký ủy ban kháng chiến hành chính huyện năm xưa.

Thu Cúc run rẩy lật từng trang giấy dó ngả vàng như màu lá úa. Nét mực tím học trò đã mờ nhạt ghi lại những ngày tản cư gian khổ năm 1947, những đợt càn quét, những dòng danh sách đồng bào sơ tán qua khúc sông Đáy. Bỗng nhiên, ngón tay cô chạm vào một nếp gấp cưng cứng nằm kẹp sâu giữa gáy sổ nhật ký năm Đinh Hợi.

Đó là một phong bì bằng giấy xi măng thô ráp, mép dán bằng nhựa cây đã khô giòn, bên ngoài không đề người nhận nhưng phía góc trên có đóng dấu son đỏ mờ của một trạm giao liên Vĩnh Yên.

Phong thư chưa từng bị xé rách mép.

Đăng nhập để thả tim Đăng nhập để tương tác

Ủng hộ tác giả Lạc Kiều
Mỗi lời động viên là động lực để tác giả tiếp tục sáng tác.

Lạc Kiều

Tác giả của câu chuyện này · Hãy cùng ủng hộ những chương tiếp theo.

Đăng nhập để theo dõi

Bình luận chương 0

Đăng nhập để tham gia bình luận.

Đang tải bình luận…