Búp Trà Móc Câu Đợi Người Dưới Phố

Chương 13: Hơi Ấm Khói Trà

Gió sớm thổi qua rặng xoan đầu ngõ đưa hơi lạnh cuối đông tràn vào gian nhà ngói ba gian ven bờ sông Đáy. Cụ bà Nguyễn Thị Như Nguyệt ngồi lặng trên chiếc chõng tre kê sát khung cửa sổ con tiện, đôi mắt đục mờ hướng ra giàn trầu không ướt đẫm sương mai. Cơn gió bấc luồn qua kẽ lá lay động những tàu cau trĩu hạt, làm rụng xuống sân gạch mấy bông hoa cau trắng li ti phảng phất hương thơm dìu dịu.

Từ lúc gà gáy canh năm, trong ngực bà đã có một mối thắc thỏm bồn chồn khó tả, như thể có từng đợt sóng ngầm cuộn lên dưới đáy sông sâu. Đêm qua trời đổ mưa rào kèm rét buốt, con cháu trong họ bỗng nhốn nháo tụ họp ngoài nhà ngang rồi lục tục kéo nhau lên chiếc xe ô tô vội vã đi về phía mạn Hà Nội. Thu Cúc lẫn người cháu trưởng họ là Nguyễn Văn Thuận đều vắng mặt, chẳng ai kịp thưa gửi rành rẽ với bà lấy một câu tròn vẹn. Suốt chín mươi sáu năm nổi trôi giữa dòng đời dâu bể, bà Nguyệt chưa từng thấy linh tính mình báo điều gì sai lệch bao giờ. Lòng dạ bà cứ như có sợi dây cước vô hình thít chặt, vừa nôn nao lại vừa nghẹn ứ.

Tiếng động cơ ô tô khẽ rù rì dừng lại ngoài cổng ngõ, cắt ngang dòng suy tưởng miên man. Tiếng then sắt lách cách mở vội, tiếp đó là bước chân dồn dập rảo qua khoảng sân rêu ẩm ướt. Cánh cửa gỗ bức bàn khẽ kêu kẽo kẹt khi bị đẩy mạnh sang hai bên.

Bác Thuận bước vào trước, theo sát phía sau là Thu Cúc. Vạt áo khoác của hai người vẫn còn vương những hạt mưa bụi li ti và hơi lạnh thấu xương của chặng đường dài. Trên gương mặt sạm đen từng trải của người con trưởng họ ngoại lộ rõ vẻ bàng hoàng, đuôi mắt thâm quầng sau một đêm thức trắng. Thu Cúc ôm khư khư trước ngực chiếc túi vải gấm thêu hoa cúc, khóe mi sưng đỏ, môi mím chặt như đang cố ghìm nén một cơn xúc động tột cùng.

Chưa đợi bà Nguyệt kịp mở lời cất tiếng hỏi, bác Thuận đã run rẩy bước tới mép chõng rồi sụp hai đầu gối xuống nền gạch tàu mát lạnh. Thu Cúc cũng quỳ nép bên cạnh bác, hai tay cẩn trọng nâng một chiếc khay gỗ nhỏ đặt lên mặt chõng tre. Trên khay là chiếc phong bì ố vàng rách mép kẹp hai tờ giấy mỏng manh cùng một gói giấy bản nhỏ buộc lạt giang cẩn thận.

“Bác Thuận… Cúc… Hai đứa làm cái trò gì thế này? Đêm hôm qua cả họ kéo nhau đi đâu mà giờ về lại quỳ mọp dưới chân tôi?” – Giọng bà Nguyệt run rẩy, bàn tay gầy gò nổi rõ những đường gân xanh bám chặt vào thành chõng.

Bác Thuận dập đầu sát ván gỗ, giọng nghẹn lại sau cuống họng:

“Bà cố ơi… Cháu… cháu thay mặt cả họ ngoại bên sông Đáy, thay mặt hương linh của các bậc tiền bối lầm lạc năm xưa mà dập đầu tạ tội với bà cố… Chúng cháu có mắt như mù, ôm mối hận thù truyền kiếp do kẻ xấu thêu dệt, để bà cố phải ngậm đắng nuốt cay suốt bảy mươi bảy năm trời!”

Cụ bà Như Nguyệt sững sờ. Đôi mày bạc nhíu lại, từng nếp nhăn nơi khóe mắt giần giật. Bác Thuận nghẹn ngào tường thuật lại toàn bộ sự thật: từ việc người cậu họ ba năm 1947 vì mối tư thù tranh chấp đồn điền chè đã đang tâm tráo thư, vu oan cho cụ Bách phụ bạc để chia rẽ đôi lứa, cho tới việc cụ Bách chưa từng lấy vợ khác, vẫn giữ trọn lời thề nơi phố cổ và vừa vắt kiệt tàn lực trên đỉnh Tân Cương để sao mẻ chè tạ lỗi.

“Cụ Bách… ông ấy đang nằm trong phòng hồi sức tích cực trên Hà Nội, suýt nữa thì không qua khỏi…” – Bác Thuận vừa nói vừa rơi nước mắt.

Đầu óc bà Nguyệt ong lên dữ dội. Lồng ngực bà thắt lại như có ai bóp nghẹt. Đôi bàn tay run rẩy lần mở phong bì ố vàng, chạm vào mảnh giấy hoa tiên có dòng chữ chì xiêu vẹo nhưng cứng cỏi. Nét chữ ấy, dẫu thời gian có phủ bụi gần một thế kỷ, làm sao bà quên cho được. Đó chính là nét chữ của người chồng trẻ đã tự tay chép tặng bà bài thơ tản cư bên bờ sông Hồng năm xưa. Những câu chữ chì mờ nhạt hiện lên rành rẽ: vết thương mạn sườn do lựu đạn đã lành da, hẹn ngày giặc tan sẽ mang búp chè móc câu về đón bà…

Từng ngón tay khẳng khiu của bà cụ chín mươi sáu tuổi bấu chặt vào tờ giấy mỏng. Một giọt, rồi hai giọt nước mắt nóng hổi rớt xuống mặt giấy đã giòn gãy. Bà không gào thét, nhưng từ lồng ngực gầy guộc bật ra những tiếng nấc nghẹn ngào, xót xa như một đứa trẻ phải chịu oan ức cả một đời người.

Bảy mươi bảy năm đằng đẵng. Bảy mươi bảy năm bà chôn chặt nỗi tủi hờn bị ruồng bỏ nơi đáy tim, lẳng lặng nuốt nước mắt vào trong mỗi độ đông về ngắm giàn trầu úa lá. Hóa ra ông chưa từng phản bội. Hóa ra người đàn ông ấy đã ôm nỗi nhớ nhung và day dứt suốt trọn vẹn một kiếp nhân sinh, đến tận lúc tóc bạc da mồi, cận kề cửa tử vẫn dùng đôi bàn tay trần bỏng rát trên chảo lửa để giữ vẹn một lời hứa đầu xanh.

Thu Cúc quỳ bên cạnh, dịu dàng gỡ từng nút lạt giang buộc gói giấy bản trên khay:

Đăng nhập để thả tim Đăng nhập để tương tác

Ủng hộ tác giả Lạc Kiều
Mỗi lời động viên là động lực để tác giả tiếp tục sáng tác.

Lạc Kiều

Tác giả của câu chuyện này · Hãy cùng ủng hộ những chương tiếp theo.

Đăng nhập để theo dõi

Bình luận chương 0

Đăng nhập để tham gia bình luận.

Đang tải bình luận…