Búp Trà Móc Câu Đợi Người Dưới Phố

Chương 21: Minh Ước Vẹn Toàn

Chiếc chén gốm da chu lươn sứt góc chạm khẽ xuống mặt bàn gỗ trắc, phát ra một tiếng "cạch" rất khẽ, giòn tan mà vững chãi. Hơi trà cốm non còn bảng lảng vương trên khóe môi người phụ nữ luống tuổi. Bà Nguyệt chậm rãi rụt tay về, rồi không chút ngập ngừng, bà vươn hai bàn tay gầy gò nhăn nheo phủ lên đôi bàn tay chằng chịt vết chai sạn của cụ Bách.

Da thịt chạm nhau, hơi ấm truyền qua từng thớ gân già nua, làm tan biến cái lạnh buốt của buổi sáng cuối đông ven hồ Gươm. Cụ Bách run rẩy ngước nhìn, đôi mắt mờ đục sau lớp lệ ngập ngừng như đứa trẻ đợi lời phán quyết.

Bà Nguyệt khẽ siết nhẹ những ngón tay gầy của chồng, ánh mắt hiền từ bao dung lạ thường:

“Ông Bách à… Uống cạn ngụm trà này rồi, tôi xin ông đừng tự trách mình thêm một ngày nào nữa. Loạn lạc đạn bom mịt mùng năm ấy, người đi kẻ ở trôi dạt theo vận nước, có ai lường trước được điều chi. Bảy mươi bảy năm đằng đẵng bên bến sông Đáy, chưa từng có một khắc nào tôi đem lòng oán trách ông. Giữ được tấm lòng son sắt đợi nhau đến tận lúc đầu bạc răng long thế này, là trời Phật đã thương xót cho hai đứa mình lắm rồi.”

Từng lời bà thốt ra như dòng nước mát tưới tắm vào tâm can khô cằn của cụ Bách. Tảng đá nặng đè trĩu lồng ngực suốt gần một thế kỷ bỗng chốc tan biến thành mây khói. Cụ Bách nghẹn ngào hít một hơi sâu, đôi môi mấp máy run run:

“Bà tha thứ cho tôi… Tôi cảm tạ bà… Đội ơn bà…”

Cụ vội đưa tay lau vệt nước ứa nơi khóe mắt, rồi quay sang chiếc hộp gỗ khảm xà cừ hoa sen đặt ngay ngắn cạnh khay trà. Cụ nhẹ nhàng mở nắp hộp. Dưới ánh đèn vàng ấm cúng, chiếc then đồng bật mở nhẹ tênh. Cụ Bách run run nhấc ra hai mảnh giấy đã ngả màu thời gian: một mảnh giấy hoa tiên ố vàng gấp tư từ mùa đông năm 1946, và một bức thư gập đôi viết chì trên giấy lệnh thời chiến gửi từ Vĩnh Yên năm 1947.

Cụ trân trọng trải rộng hai tờ giấy lên mặt bàn gỗ trắc, ngay bên cạnh ấm tử sa nghi ngút khói. Bà Nguyệt cúi đầu, bàn tay run run lần theo từng nét mực tàu đen nhánh đã phai màu: “Hẹn người thương một tuần trà hoa cúc đầu mùa…”.

“Nét chữ của ông ngày còn ở ngõ Sinh Từ…” – Bà Nguyệt rưng rưng, giọng chùng xuống – “Hôm ấy tiễn ông ra chiến lũy, tiếng súng nổ rát mặt phố, ông nhét vội mảnh giấy này cùng chiếc kẹp tóc vào tay tôi… Thế mà chớp mắt một cái, đầu xanh đã thành đầu bạc.”

Cụ Bách chỉ tay sang bức thư viết chì loang lổ vết ẩm mốc, từng con chữ xiêu vẹo nhưng cứng cỏi:

“Còn đây là những lời tôi viết trong lán quân y Vĩnh Yên khi vừa lành vết thương mảnh đạn mạn sườn. Tôi gửi theo người về hậu phương, dặn dò nơi sơ tán, vậy mà kẻ xấu gièm pha tráo thư, gây nên nỗi oan khiên ngần ấy năm trời. Hôm nay trước mặt tổ tiên và con cháu, mọi sự đã sáng tỏ như trăng rằm rồi bà ạ.”

Bà Nguyệt gật đầu, một giọt nước mắt lăn dài trên gò má đồi mồi rơi khẽ xuống mặt giấy, nhưng trên môi bà lại nở nụ cười rạng rỡ.

Lúc bấy giờ, bác cả Nguyễn Văn Thuận cùng người đại diện chi họ nội cụ Bách kính cẩn bước lên phía trước. Ở góc trang trọng nhất của gian phòng trà, một chiếc bàn thờ nhỏ đã được bày biện sẵn bát hương đồng và mâm ngũ quả thanh khiết. Bác Thuận châm ba nén hương trầm, hai tay nâng ngang mày, quỳ sụp xuống chiếu hoa trước hương linh tổ tiên tiền tổ.

Đăng nhập để thả tim Đăng nhập để tương tác

Ủng hộ tác giả Lạc Kiều
Mỗi lời động viên là động lực để tác giả tiếp tục sáng tác.

Lạc Kiều

Tác giả của câu chuyện này · Hãy cùng ủng hộ những chương tiếp theo.

Đăng nhập để theo dõi

Bình luận chương 0

Đăng nhập để tham gia bình luận.

Đang tải bình luận…