Cái Bát Gốm Nứt Gắn Mảnh Đồng Của Nội
Chương 2: Mũi khoan kéo dây cung
Tiếng cười châm chọc cùng lời lẽ the thé của Nghĩa rớt vào mâm cơm như nắm muối xát vào vết thương chưa khép miệng. Cụ Lương vẫn ngồi lặng yên, lưng còng hơi trĩu xuống nhưng hai bàn tay đặt trên gối không hề run rẩy. Nhìn ánh mắt hằn học của đứa con trai út đang dán chặt vào chiếc bát da lươn, cụ không giận, chỉ thấy một nỗi xót xa âm ỉ dâng lên nơi cuống họng.
Trọng ngồi đối diện khẽ giật mình, chiếc đũa tre trên tay run bắn, đầu đũa khẽ chạm vào thành bát phát ra tiếng lách cách rụt rè. Bé An nép sát vào người cha, thằng Bình thì ngơ ngác buông hạt bo bo đang nhai dở.
Cụ Lương chậm rãi nâng chiếc bát nứt lên, ngón tay cái sần sùi miết nhẹ qua ba chiếc chốt đồng thau đã lên nước bóng láng. Cụ nhìn Nghĩa, giọng trầm ấm mà rành rẽ từng tiếng:
“Cái gì còn dùng được thì chưa phải đồ bỏ, con à. Vết nứt trên đồ gốm hay vết thương trong lòng người cũng vậy, biết lựa đường mà ghim thì nó bền hơn cả lúc lành lặn. Ăn cơm đi, để nguội mất ngon.”
Nghĩa hậm hực quay mặt đi chỗ khác, chiếc nạng gỗ trong tay siết chặt đến kêu răng rắc, nhưng trước vẻ điềm tĩnh như mặt nước sông của cha già, anh không thốt thêm được lời nào, đành cúi xuống và vội mấy miếng khoai mì đắng ngắt. Bữa cơm chiều nặng nề trôi qua trong tiếng gió sông thổi xao xác ngoài rặng bần.
Sáng sớm hôm sau, khi sương mù bến Châu Đốc còn bảng lảng trôi trên mặt nước đục phù sa, cụ Lương đã khẽ khàng thức dậy. Cụ lần tay thắp ngọn đèn dầu hột vịt, vặn bấc vừa phải để ngọn lửa vàng le lói đủ soi rõ góc hiên. Cụ ngồi xếp bằng lên chiếc đôn gỗ mun quen thuộc, bắt đầu cữ làm việc sớm nhằm tránh cái nắng gay gắt cữ trưa của xứ đầu nguồn.
Tiếng dép nhựa lẹt xẹt ngoài ngõ cắt ngang sự tĩnh mịch. Thím Bảy Tạp Hóa đầu xóm vội vã bước vào, trên tay ôm khư khư chiếc thố sành men nâu da chuối dùng để muối dưa cà. Thấy cụ Lương đã ngồi bên đồ nghề, thím mừng rỡ nói nhỏ:
“Bác Lương ơi, may quá bác đã dậy! Hôm qua con nhỏ cháu bất cẩn va quệt vô ngạch cửa, làm cái thố này nứt một đường dài từ miệng xuống tận đáy. Thời buổi gạo châu củi quế, sổ mua lương thực còn chẳng đủ ăn, đồ đất nung phân phối trên mậu dịch có tiền cũng đâu dễ gì mua lại cái mới. Bác coi ráng hàn giùm tui đặng kịp muối khạp dưa bồn bồn giao cho bạn hàng ngoài chợ.”
Cụ Lương đỡ lấy chiếc thố sành, đặt lên đùi rồi đưa ngón tay gõ nhẹ vào thân gốm. Âm thanh đục và rè rè phát ra báo hiệu vết rạn đã xé dọc thân men. Cụ ngước mắt nhìn thím Bảy, khẽ gật đầu:
“Thím cứ để lại đây. Nứt ngay sống lưng nhưng chưa rớt mảnh, tui ghim vài chốt đồng là lại chắc nịch như xưa, muối dưa ăn ba mùa nước nổi cũng không rỉ một giọt.”
Thím Bảy cảm ơn rối rít rồi quay gót về cho kịp buổi chợ sớm. Cụ Lương với tay lấy bộ đồ nghề gia bảo đặt trên chiếc chõng tre. Đôi bàn tay gầy guộc nhưng chuẩn xác lạ thường nhấc chiếc cần cung bằng tre già uốn cong, sợi dây cước căng bóng được quấn hai vòng quanh trục cán của mũi khoan thép nhọn hoắt.
Cụ kẹp chặt chiếc thố sành vào giữa hai đùi, đầu trên của cán khoan tì vào miếng gỗ lõm áp sát nơi ngực để giữ phương thẳng đứng. Cánh tay phải cụ đưa đi đẩy lại nhịp nhàng. Cần cung chuyển động thoăn thoắt, kéo mũi khoan xoay tít trên nền men gốm láng bóng. Tiếng rít ken két rợn buốt chân răng vang lên đều đặn giữa không gian sớm mai thanh vắng. Cụ Lương hơi nghiêng mũi khoan một góc vừa phải, chỉ khoan sâu đúng hai phần ba độ dày thân thố rồi dừng lại, tuyệt đối không để mũi thép đâm thủng thấu lòng trong. Bụi men trắng mịn như tàn tro bay ra lất phất, bám vào kẽ móng tay cáu vàng của người thợ già.

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…