Cái Bát Gốm Nứt Gắn Mảnh Đồng Của Nội

Chương 21: Chân đinh thứ tư

Tiếng then đồng khô giòn vừa dứt, nắp hộp gỗ mun chầm chậm hé mở dưới ánh nắng rọi xiên qua liếp cửa. Cụ Lương run rẩy đưa đôi tay gầy gò nâng hai nửa chiếc bát gốm da lươn nứt đôi, cẩn trọng đặt lên tấm nỉ đỏ trải giữa mâm gỗ lim. Lớp men nâu sẫm bóng mờ lộ ra ba chiếc đinh đồng thau đã ngả màu xỉn đồng điếu, bám chặt lấy vết nứt cũ chạy dài từ vành miệng. Nhưng ngay khúc ngoặt gần đáy bát, vệt rạn toác làm đôi để lộ xương đất xám ngắt, nơi chân đinh thứ tư suốt mấy mươi năm vẫn còn bỏ ngỏ.

Trọng đứng lặng, sống mũi cay xè. Nhìn hai mảnh đất nung sứt sẹo nằm trơ trọi trên nền nỉ đỏ, lòng anh như thắt lại. Từng mảnh ký ức chua xót ùa về: những ngày đói rách trên vùng kinh tế mới, những đêm dài cắn răng nhìn vợ trút hơi thở cuối cùng vì thiếu thuốc, rồi ngày anh dắt con gái trở về bến sông trong cảnh trắng tay, hứng trọn cơn giận dữ cùng những lời cay nghiệt của đứa em trai tật nguyền. Chính tại sàn ván này, trong một bữa cơm khét mùi bo bo, chén cơm kỷ vật của mẹ đã rơi xuống vỡ toác.

Nhưng giờ đây, nhìn sang Nghĩa đang ngồi ngay ngắn trên tấm ván lót, thấy chiếc nạng gỗ dựng gọn ghẽ bên vách và đôi mắt em trai đượm vẻ ân hận, Trọng hiểu rằng tảng băng nặng nề ngăn cách giữa họ đã tan rã sau cơn lũ dữ. Anh hít một hơi thật sâu, chủ động chìa bàn tay rám nắng về phía cụ Lương, giọng trầm chắc:

“Cha để con kẹp cần cung cho.”

Ánh mắt Trọng chạm vào cái nhìn của Nghĩa. Không một lời thừa thãi, chỉ một cái gật đầu kín đáo giữa hai người đàn ông, nhưng chan chứa sự gắn kết máu mủ đã liền da sau bao biến cố.

Cụ Lương mỉm cười hiền từ, trao chiếc cần cung tre uốn cong căng sợi dây gân dẻo dai cho con trai cả:

“Khoan men gốm cổ, cái tâm phải tĩnh như mặt nước mùa ròng. Ép mạnh thì nứt xương đất, run tay thì trượt men làm toác miệng lỗ. Hai anh em bây coi chừng chừng mà làm.”

Nghĩa lập tức dịch người lại gần, hai bàn tay thô tháp cẩn thận ôm lấy hai mảnh gốm vỡ, ép chặt hai mép rạn vào nhau sao cho đường chỉ nứt khít rịt, không một kẽ hở mảy may. Những ngón tay của người thương binh bấu chặt lấy thân gốm cứng ngắc, ghì chắc xuống mặt nỉ để chống rung chấn.

Trọng quỳ một chân, kẹp đốc cần khoan vào lòng bàn tay trái, tay phải cầm thanh cung tre. Mũi khoan thép tôi nhọn hoắt được anh đặt nghiêng một góc chuẩn xác ngay bên bờ vết rạn, cách mép nứt chừng nửa lóng tay út.

“Anh Hai, em giữ vững rồi,” Nghĩa khẽ nói, hơi thở dằn xuống từng nhịp ngắn.

Trọng nín thở. Cánh tay phải của anh bắt đầu đẩy đưa cần cung. Mũi thép xoay tít, cọ xát vào lớp men da lươn phát ra tiếng ken két rợn buốt. Một lọn khói mỏng manh ngai ngái mùi đất nung bốc lên, theo sau là những hạt bụi men trắng li ti rơi lả tả xuống mặt nỉ đỏ như phấn thông. Trọng dồn toàn bộ sự tập trung vào đầu mũi khoan, cảm nhận từng độ lún của mũi thép qua thớ thịt bàn tay. Anh nhớ từng lời cha dặn: chỉ được khoan sâu hai phần ba thân gốm, tạo thành một góc xiên hàm én để giữ chặt đầu chốt mà tuyệt đối không được để mũi thép đâm thủng thấu lòng bát.

Tiếng ken két chậm dần rồi dừng hẳn khi mũi khoan vừa chạm tới độ sâu cần thiết. Trọng nhấc cần cung lên, thổi nhẹ cho bay lớp bột men. Một lỗ khoan tròn xoe, sắc ngọt hiện ra. Không một giây chần chừ, anh chuyển mũi khoan sang phía đối diện của vết nứt, tiếp tục kéo nhịp cung êm ả. Lỗ thứ hai nhanh chóng thành hình, đối xứng hoàn hảo với lỗ thứ nhất, mở ra một đường ngậm đinh vững chãi mà xương gốm xung quanh không hề rạn thêm một sợi tóc.

Đăng nhập để thả tim Đăng nhập để tương tác

Ủng hộ tác giả Hát Long
Mỗi lời động viên là động lực để tác giả tiếp tục sáng tác.

Hát Long

Tác giả của câu chuyện này · Hãy cùng ủng hộ những chương tiếp theo.

Đăng nhập để theo dõi

Bình luận chương 0

Đăng nhập để tham gia bình luận.

Đang tải bình luận…