Cánh Diều Khung Tre Dẫn Lối Đò Âm
Chương 13: Bàn Tay Đen Nơi Phủ Đường
Ánh đuốc bập bùng từ phía kho muối Hưng Long hắt lên nền trời bãi bồi một vệt đỏ gay gắt. Tiếng mõ tre khua liên hồi hòa cùng tiếng la ó đuổi bắt của đám tuần đinh lùa vào ngọn gió mặn. Đứng nơi mũi thuyền nan, Đội Biền hạ thấp giọng, một tay đè lên bao vải điều bọc đoạn xích sắt giắt chặt bên sườn, tay kia nắm lấy cán chèo:
“Lão Cửu đánh động tuần đinh để nghi binh. Cụ với thằng Văn mau lui vào luồng lạch cạn giấu thuyền, chớ để bọn chúng thấy mặt. Việc ở phủ đường cứ để tôi lo!”
Cụ San khẽ gật đầu, vạt áo tơi bay là là mặt nước. Không chậm trễ một khắc, Đội Biền rảo bước men theo bờ cát lún, băng qua rặng phi lao để tìm về trạm ngựa tuần cảnh. Trước khi trời kịp hửng sáng, người lính tuần phòng đã nai nịt gọn gàng trong bộ sắc phục lính khố xanh thẳng thớm, thúc ngựa trạm phi nước đại dọc triền đê hướng về phủ lỵ.
Sương sớm giăng mờ mịt lối vào phủ đường. Tiếng vó ngựa dồn dập dừng lại trước bậc thềm gạch rêu phong của nha môn. Đội Biền ôm bọc tang vật nặng trĩu tiến thẳng vào công đường. Mùi trầm hương nồng nặc quyện chặt trong gian phòng lớn u tối, nơi những bức rèm the buông hờ hững.
Thế nhưng, vừa bước qua ngạch cửa gỗ lim, chân mày Đội Biền đã giật mạnh.
Bên chiếc bàn trà khảm ốc xà cừ đặt chếch cạnh án thư, Bá hộ Trần Bá Cửu đã ngồi chễm chệ tự lúc nào. Lão mặc áo gấm the đen cài khuy bạc lấp loáng, chiếc nhẫn ngọc cẩm thạch nơi ngón tay cái khẽ xoay tròn khi lão thong dong nâng chén trà mạn bốc khói. Thấy bóng người lính tuần cảnh, đôi mắt ti hí của lão nheo lại, khóe miệng nhếch lên nụ cười nửa miệng đầy vẻ giễu cợt.
Trên chiếc ghế bành bọc nỉ đỏ, quan Tri phủ ngồi tựa lưng, hai mắt lờ đờ như vừa trải qua một giấc ngủ chập chờn.
Đội Biền đứng nghiêm, đưa tay chào theo phép nhà binh rồi bước lên hai bước, cất giọng sang sảng:
“Báo cáo quan lớn! Đêm qua, trong lúc tuần tra vùng bãi bồi Cửa Đáy, tôi cùng nhân chứng đã trục vớt được tang vật mấu chốt dưới đáy lạch Đò Âm. Đây là chứng cứ về vụ đắm thuyền chở mười hai phu muối năm Giáp Tý, đồng thời có dấu hiệu của việc mưu sát phi tang và phóng hỏa đốt chòi tre dân sự đêm trước!”
Dứt lời, Đội Biền dứt khoát mở bọc vải gai thô đặt lên mặt bàn thụ lý. Từng món đồ lần lượt lộ diện: mảnh ván thuyền mục cháy sém mang dấu triện bông muối, chiếc bật lửa đồng thau chạm hoa văn tinh xảo có khắc ba chữ cái lồng “T.B.C”, và cuối cùng là đoạn xích sắt ba gang tay rỉ sét đỏ quạch, then cài còn hằn rõ dấu khắc của lò rèn Hưng Long.
Quan Tri phủ khẽ liếc mắt nhìn đống đồ vật vương đầy bùn lầy, chân mày nhíu lại lộ vẻ khó chịu. Ông ta chưa kịp mở miệng thì tiếng cười khẩy của Bá hộ Cửu đã vang lên the thé:
“Thầy Đội Biền ăn nói hồ đồ quá! Mấy thứ sắt vụn rỉ sét ngâm dưới bùn đáy sông thì liên quan gì tới bổn hãng? Vùng cửa sông sóng to gió cả, năm nào chẳng có thuyền buôn trôi dạt mắc cạn đắm chìm. Lấy đâu ra chuyện mưu sát với xích sắt dìm thuyền xằng bậy ấy?”
Lão Cửu buông chén trà xuống đĩa nghe một tiếng “cạch”, đoạn thò tay chỉ vào chiếc bật lửa đồng thau trên bàn, giọng đổi sang vẻ xót xa, bức xúc:
“Còn chiếc bật lửa này, bẩm quan lớn, đúng là đồ gia bảo của kẻ hèn này! Đêm hỏa hoạn ở chòi tre của lão già họ Ung bên rặng bần, tôi sai tuần đinh mang nước sang tương trợ cứu hỏa, nào ngờ thằng Văn con nhà phu muối đã lén thò tay móc túi áo gia nhân của tôi lấy cắp. Tôi chưa kịp bẩm báo nha môn để bắt kẻ gian thì thầy Đội đây đã vội vàng đem ra đây vu vạ cho người lương thiện!”
“Ông Bá hộ!” Đội Biền đanh giọng, ánh mắt bừng bừng lửa giận. “Gia nhân của ông sang cứu hỏa mà lại mang theo bùi nhùi rơm tẩm dầu hỏa hay sao? Dấu vết tàn thuốc ngoại và dầu hỏa còn vương đầy quanh chái chòi! Còn đoạn xích sắt này, mắt xích quấn chặt mạn thuyền gỗ lim neo vào đá ngầm dưới túi bùn lún chân gò Bến Than, then khóa đóng triện bông muối Hưng Long rành rành. Lò rèn nào trên đất này dám đúc trộm dấu triện của ông?”
Bá hộ Cửu biến sắc, chòm râu dê run rẩy nhưng lập tức lấy lại vẻ trơ tráo. Lão liếc xéo về phía quan Tri phủ, khẽ ho khan một tiếng rồi kín đáo đẩy nhẹ chiếc tráp gỗ hương sang mép bàn trà. Dưới nắp tráp hé mở, những xấp giấy bạc Đông Dương mệnh giá lớn nằm xếp ngay ngắn, phản chiếu ánh sáng lờ mờ nơi công đường.
Quan Tri phủ vuốt chòm râu thưa, đưa tay gõ nhẹ chiếc quạt ngà xuống mặt án, tằng hắng lấy giọng:
“Thôi được rồi! Thầy Đội chớ có nóng vội mà võ đoán. Mấy mẩu ván mục với đoạn sắt vụn ngâm nước bảy tám năm trời thì chứng minh được điều gì? Cửa Đáy là nơi tàu bè tứ xứ qua lại, biết đâu là xích neo của tàu buôn ngoại quốc vứt bỏ lại? Còn việc chiếc bật lửa, đôi bên lời qua tiếng lại chưa có người làm chứng rõ ràng, không thể tùy tiện quy kết người có chân trong hội đồng địa hạt như ông Bá hộ đây được.”

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…