Cây Sào Đuổi Vịt Giữ Lại Bờ Bao
Chương 17: Giữ lại bờ bao
Tiếng máy đuôi tôm nổ giòn giã rẽ màn mưa xé toạc đêm đen rạch Cây Gáo. Hàng chục luồng sáng đèn pin quét loang loáng trên mặt sóng đục ngầu, kéo theo tiếng người gọi nhau ơi ới hòa trong tiếng sấm rền: — Đâu rồi? Tim mạch rò nằm ở khúc nào anh Tư ơi? — Ngay ngọn sào tre! Đằng kia kìa! Chỗ túm vải đỏ đang giằng lắc giữa dòng đó! — Bác Tư Đước đứng trên mũi xuồng tuần tra gào lớn, cánh tay rắn rỏi chỉ thẳng về phía luồng nước quẩn.
Giữa mặt rạch đang sôi sục, cây tre già do chính tay Bách cắm sâu dưới đáy bùn vẫn đứng sừng sững, đầu ngọn nhô cao khỏi mặt nước chừng một sải tay. Miếng vải đỏ thắt nơi chóp tre bị dòng xoáy ngầm bên dưới giật lắc liên hồi, quẫy đập điên cuồng như một chiếc la bàn sống chỉ thẳng vào điểm yếu chí tử của bờ bao Lung Mây.
Một chiếc xuồng ba lá chở đầy cừ tràm áp sát mạn xuồng tuần tra. Dì Út Lành vươn người sang, hai tay ôm lấy nách Bách nhấc bổng cậu bé qua khoang xuồng của mình. Dì nhanh nhẹn gỡ chiếc khăn rằn sọc xanh quấn quanh cổ choàng lên hai bờ vai gầy đang run cầm cập của thằng nhỏ, giọng xót xa: — Tội nghiệp thằng nhỏ ướt mem, lạnh ngắt như cục đồng rồi nè! Ráng quấn chặt khăn nghen con! Con giỏi dữ hôn Bách, nhờ con mà cả ấp mới hay có lỗ mọt khoét ruột bờ bao!
Hơi ấm từ chiếc khăn rằn của dì Út lan tỏa khắp da thịt, xua bớt cái giá buốt đang cào cấu trong từng thớ thịt non. Lòng bàn tay rách da bữa trước bớt buốt rát, gót chân từng bị dằm đâm cũng bớt ê ẩm khi được kéo khỏi làn nước xiết. Dì Út nhét vội vào tay Bách một cây đèn pin vỏ sắt: — Bách con ráng cầm đèn soi phụ mấy anh em, để dì phụ chuyền vỉ tre xuống đáy rạch! — Dạ dì Út! — Bách gật đầu lia lịa.
Cậu bé chín tuổi đứng nép bên mạn xuồng, hai tay bặm chặt cán đèn pin, quét luồng ánh sáng vàng rực xuống chân cọc tre tiêu. Từ khoang xuồng dì Út nhìn qua mé bờ cao, Bách thấy đàn vịt hai ngàn con đang túm tụm nép sát rặng sậy ken dày, con Khoang Cổ vẫn kiêu hãnh ngẩng cao đầu đứng canh mũi đàn. Đằng xa sau rặng tràm, chiếc tam bản cũ kỹ của ba vẫn neo vững chãi dưới tấm bạt dứa chắn gió. Biết ba và bầy vịt vẫn bình an vô sự, ruột gan Bách như giãn ra, toàn bộ tâm trí dồn hết vào cuộc chiến hộ đê trước mặt.
Không khí quanh khúc rạch Cây Gáo bỗng chốc sôi sục như một công trường giữa đêm bão. Hơn hai chục thanh niên trai tráng của ấp Lung Mây cởi trần trùng trục, lưng thắt chặt dây dù, đồng loạt nhảy ùm xuống dòng nước lũ. — Chia làm hai cánh! — Tiếng bác Tư Đước vang rền chỉ huy. — Đội một nêm cừ tràm quanh gốc sào! Đội hai chuẩn bị dìm vỉ tre ém bao cát! Nhanh tay lên bà con, nước lũ thượng nguồn đang đội lên từng tấc đất!
Những người thợ lặn dũng cảm của xóm cù lao nương theo ngọn sào thắt vải đỏ của Bách mà lặn sâu xuống đáy bùn. Mặt rạch tối om đục ngầu phù sa, nhưng nhờ có ngọn tre rung giật định vị, không một ai bị lạc dòng. Từng cây cừ tràm to bằng bắp chân, đầu vạt nhọn hoắt được chuyền tay nhau đưa xuống nước sâu. “Thùm… thùm… thùm…”
Tiếng búa tạ nện chìm dưới đáy nước phát ra những âm thanh trầm đục, dội rung cả mái bờ bao. Nhìn bọt nước cuộn lên quanh tim sào, Bách biết dưới đáy rạch những người trai làng đang ngụp lặn dùng sức chèn chặt từng thân tràm xuống thớ đất sét cứng, vây thành một vòng cung vững chãi bao bọc lấy miệng hốc rỗng hoác. Cứ mỗi lần một thanh niên trồi đầu lên lấy hơi, bọt nước lại bắn tung tóe, tiếng thở dốc hòa cùng tiếng gầm của gió chướng: — Cừ tràm vô thế rồi anh Tư ơi! — Đưa vỉ tre xuống mau!

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…