Chấn Tử Điện Biên Soi Luồng Khói Độc
Chương 20: Ánh sáng công lý
Tiếng lách cách khô khốc của chiếc quạt ngà rơi trên nền đá hoa xám như một dấu chấm hết cho sự giãy giụa vô vọng của kẻ thủ ác. Đào Bá Hậu ngồi chết lặng, đôi mắt ti hí dại đi trước làn sóng phẫn nộ đang sục sôi nơi công đường. Cảnh Doãn Hạc khẽ điều hòa hơi thở dưỡng sinh, lồng ngực cụ chìm xuống êm ả, đôi mắt trong suốt nhìn thẳng vào gương mặt xám ngoét của viên Tuần phủ thoái hóa.
Không để Đào Bá Hậu kịp hoàn hồn mở lời giảo biện, cụ Hạc đĩnh đạc bước lên một bước, vạt áo chàm lay động theo nhịp chân vững chãi. Cụ chắp tay hướng về phía bàn thẩm phán:
“Thưa ông Chánh sứ! Thực nghiệm dao động vi ba vừa rồi đã phơi bày bản chất luồng khói độc hại thoát ra từ kho muối. Nhưng âm mưu thâm độc này không chỉ dừng lại ở việc mượn gió đầu độc thung lũng. Kẻ chủ mưu còn toan tính tạo ra một cái bẫy hoàn hảo ngay tại tim bản Mo để thiêu rụi mọi dấu vết, ngụy tạo thành thảm họa tự nhiên.”
Paul Mercier vừa đặt tẩu thuốc xuống, nghe vậy liền cau mày, ánh mắt xám sắc lạnh nhìn xoáy vào cụ:
“Cụ già bưu điện, ông còn chứng cứ vật chất nào khác chăng?”
Cụ Hạc quay về phía mép sân tòa, cất giọng trầm ấm mà sang sảng:
“Mời già bản Lò Văn Bun và chú Khảm mang vật chứng vào!”
Từ góc cổng Tòa Công sứ, già bản Lò Văn Bun trong bộ trang phục thổ cẩm truyền thống trang trọng cùng Lò Văn Khảm nhanh chóng khiêng ba hòm gỗ sồi tiến vào giữa sân. Ba chiếc hòm được đặt ngay ngắn trước vành móng ngựa. Trên từng nắp hòm, dải giấy niêm phong đỏ thắm cùng dấu triện của nha môn Tuần phủ Sơn La vẫn còn nguyên vẹn, chưa hề sứt mẻ.
Đào Bá Hậu vừa trông thấy ba chiếc hòm gỗ, hai bả vai mập mạp bỗng giật nảy lên bần bật như bị điện giật. Y lắp bắp qua kẽ răng run rẩy:
“Đó… đó chỉ là quà phẩm của nha môn… chu cấp sáp thơm và than củi cho dân bản vui hội xên bản! Không được vu cáo!”
“Quà phẩm hay là mồi lửa sát nhân, xin quan Tuần hãy nhìn cho rõ.”
Cụ Hạc rút từ túi đồ nghề chiếc dao nạo bằng thép nguội thường dùng tỉa gọt lõi cách điện. Cụ bước tới bên chiếc hòm gỗ đầu tiên, dùng lưỡi dao tách nhẹ dải niêm phong, cạy bật nắp hòm rồi nhấc ra một khối sáp màu trắng đục thơm nức mùi hoa hồi. Trước sự chứng kiến của viên Chánh sứ và hàng trăm cặp mắt tò mò, cụ Hạc nghiêng lưỡi dao, gọt phăng lớp sáp thơm bên ngoài dày chừng nửa đốt ngón tay.
Lớp vỏ sáp ong mỏng vừa rụng xuống, để lộ ra phần lõi bên trong xám xịt, xốp ráp và lấm tấm những tinh thể bột khoáng màu vàng sẫm cùng vệt bột trắng ngà.
Cụ Hạc hứng một nhúm bột lõi sáp lên đĩa gốm chịu nhiệt, đưa lại gần bàn thẩm phán để Paul Mercier tự mình quan sát, đoạn từ tốn giải thích:
“Lớp vỏ ngoài chỉ là sáp ong tẩm hương liệu nhằm đánh lừa khứu giác. Toàn bộ phần lõi bên trong được nhào nặn tinh vi từ sáp khoáng dầu hỏa, phối trộn một lượng lớn quặng lưu huỳnh nghiền mịn và bột thạch tín. Khi mười bao than củi bén lửa cùng ba hòm sáp này tại lễ hội, nhiệt lượng tỏa ra sẽ cực kỳ khủng khiếp, tạo nên một cột nhiệt bốc thẳng lên cao. Hiện tượng đối lưu nhiệt cưỡng bức này lập tức sinh ra một tâm áp suất thấp cục bộ ngay giữa các nếp nhà sàn bản Mo. Khi ấy, luồng sol khí độc nặng hạt từ đồi kho muối trôi xuống men theo khe suối sẽ bị phễu áp thấp này hút trọn vào trung tâm bản làng, không một sinh linh nào có thể thoát khỏi cảnh ngạt thở và thiêu rụi trong đêm hội!”
Lời phân tích rành rọt, duy vật và chuẩn xác về mặt vật lý của cụ Hạc như tiếng sấm nổ vang giữa công đường. Toàn bộ âm mưu biến bản làng người Thái thành bình địa ngụy trang dưới danh nghĩa hỏa hoạn sơ sẩy đã hoàn toàn bị lột trần trước thanh thiên bạch nhật.
“Quân giết người! Đồ quan tham bất nhân!”

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…