Chậu Nước Tôi Đồng Soi Thấu Bẫy Nha Môn
Chương 2: Ti Đúc Tiền nổi lửa
Hơi lạnh từ mặt nước sông Tô Lịch phả lên bờ ngưng tụ thành làn sương mỏng, nhưng vừa chạm tới cổng Ti Đúc Tiền đã vội tan biến trước sức nóng hầm hập tỏa ra từ bảy lò luyện kim. Những cột khói xám quyện cùng bụi than đen đặc cuộn xoáy lên nền trời, mang theo tiếng bễ thụt trầm đục tựa sấm rền dội sâu vào lòng đất. Từng tốp thợ mình trần đầm đìa mồ hôi đang hối hả gánh than nghiến, tiếng búa nện chan chát trên đe đá hòa lẫn tiếng gầu sắt múc xỉ tạo nên một khung cảnh náo nhiệt đến nghẹt thở.
Khang Triệu Nghị giấu mảnh tiền vỡ nham nhở vào sâu trong ống tay áo chàm, chậm rãi bước qua cổng lớn bằng gỗ lim đóng đinh đồng. Đôi mắt bách niên khẽ nheo lại trước ánh lửa đỏ rực hắt ra từ các vòm lò, thần thái trầm tĩnh như tùng bách giữa chốn ba đào. Khí tức điều hòa theo từng nhịp thở êm ái giúp cụ giữ trọn sự tỉnh táo, tách biệt khỏi nỗi hoang mang đang âm ỉ lan tràn.
Khác với vẻ rộn rã thường ngày, không khí nơi xưởng đúc hôm nay căng thẳng tựa dây đàn kéo căng. Ánh mắt đám thợ thuyền lấm lét nhìn nhau, tiếng xì xào to nhỏ ngập ngừng dường như muốn giấu giếm điều gì khuất tất. Không bước thẳng về phía sảnh nha môn nơi các quan viên Hộ Bộ đang ngồi phẩm trà, Khang lão rẽ bước sang con đường lát đá xanh dẫn về phía chái tây. Đó là nơi đặt gian kho kiên cố lưu giữ quặng đồng thô hảo hạng vừa được thuyền tải chuyển về từ mỏ viễn xứ.
Cánh cửa kho dày nặng hé mở một khe nhỏ. Không gian bên trong tĩnh mịch, mát lạnh, nồng nặc mùi kim khí và đất ẩm. Dưới ánh sáng le lói của ngọn đèn dầu lạc treo trên vách đá, hàng chục chiếc hòm gỗ nghiến to bản bọc đai sắt xếp ngay ngắn thành từng dãy dài. Đây là số quặng đồng đỏ loại một được triều đình phân bổ riêng cho đợt đúc tiền bản vị quan trọng này.
Khang Triệu Nghị bước chậm rãi giữa hai dãy hòm, ngón tay khô gầy khẽ lướt dọc theo từng mép gỗ. Khi dừng lại trước dãy hòm ở góc sâu nhất, bước chân cụ đột nhiên khựng lại.
Trên mặt hòm gỗ trước mắt, mép giấy bản niêm phong mang dấu đỏ của Hộ Bộ đã bị sờn rách bất thường. Quan sát kỹ lưỡng dưới ánh đèn, Khang lão nhận thấy những sợi xơ của giấy bản có dấu vết bị mũi dao mỏng cạy rách từ trước, sau đó kẻ gian mới dùng một lớp hồ dán sơ sài ép đè trở lại. Nguy hại hơn cả là cục sáp niêm phong màu đỏ sẫm dập nổi chữ “Khảo Tích”.
Khang lão khẽ đưa đầu ngón tay trỏ miết nhẹ lên khối sáp. Mặt sáp mềm nhũn khác thường, vết lún sâu lộ rõ chất mỡ nhờn bốc lên mùi hôi nồng của mỡ lợn trộn vụn khoáng thô, hoàn toàn không có mùi thơm thanh khiết của sáp ong rừng chuyên dùng làm ấn triện quan phương. Con dấu dập trên sáp tuy mô phỏng đúng hoa văn chữ triện của Bộ Hộ, song các góc cạnh đều tròn trịa, tù túng, đích thị là sản phẩm của một con dấu khắc bằng gỗ mềm, non tay chứ chẳng phải ấn đồng nguyên khối nơi công đường.
Có kẻ đã cạy mở niêm phong của kho dự trữ quốc gia, rồi trơ tráo ngụy tạo dấu sáp giả để che mắt mọi người.
“Sư phụ!”
Một tiếng gọi nghẹn lại vì gấp gáp vang lên phía sau lưng. Khang Triệu Nghị ngoảnh lại, nhận ra đệ tử Lê Hữu Cung đang bước vội qua cửa kho. Chàng thanh niên hai mươi tám tuổi thân hình vạm vỡ, hai cánh tay cuồn cuộn gân guốc còn vương đầy bụi than và vệt khói xém, gương mặt ngăm đen lộ rõ vẻ bàng hoàng. Hữu Cung cẩn thận khép chặt cánh cửa gỗ, tiến sát lại bên cụ, ghìm giọng thật nhỏ:
“May quá thầy đã về! Con vừa sang khu nhận quặng của lò số bảy... Bên ấy sắp xảy ra chuyện lớn rồi thầy ạ!”
Khang Triệu Nghị khẽ giơ tay ra hiệu cho học trò bình tĩnh, giọng trầm ấm:
“Có chuyện gì, con cứ từ tốn nói rõ đầu đuôi.”
Lê Hữu Cung hít một hơi sâu, hai bàn tay siết chặt thành nắm đấm, lồng ngực phập phồng:

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…