Chậu Nước Tôi Đồng Soi Thấu Bẫy Nha Môn
Chương 4: Mẻ đồng xỉn màu
Tiếng đầu gậy sắt nện chát chúa xuống thành sọt gỗ cắt ngang bầu không khí đặc quánh nơi gian kho chái tây. Bốn tên nha sai mặt đằng đằng sát khí xốc tới, thô bạo thúc báng gậy vào lưng đám phu khuân vác, áp giải những sọt quặng xỉ xộc xệch thẳng về hướng lò số bảy. Tiếng trống từ chòi canh bên bờ sông Tô Lịch điểm từng hồi giờ Thân giục giã, báo hiệu thời khắc nổi lửa nghiệt ngã đã điểm.
Khang Triệu Nghị khẽ thở dài, bàn tay khô gầy nhưng vững chãi vẫn đặt trên bả vai gầy guộc của người thợ cả. Cụ cúi xuống, giọng trầm ấm ghìm sâu niềm trắc ẩn:
“Bá Lĩnh, hãy gượng dậy. Ta cùng Hữu Cung sẽ túc trực bên lò cùng anh em.”
Trần Bá Lĩnh run rẩy lau vệt nước mắt nơi khóe mi, gật đầu trong cay đắng rồi cùng ba người thợ già lảo đảo bước theo bóng dáng hung hãn của đám nha sai.
Lò đúc số bảy sừng sững bên bờ sông, mái ngói ám đen muội than qua hàng chục năm ròng. Ngay khi sọt quặng đổ ụp vào cửa nạp, ngọn lửa than nghiến lập tức bốc lên ngùn ngụt.
Đêm xuống, tiếng bễ thụt đôi bằng gỗ lim bắt đầu vang rền khắp gian xưởng, kéo dài thấu đêm suốt sáng. Tiếng gió rít phì phò từ ống bễ thúc từng luồng hơi rát bỏng vào lòng lò sâu hoắm. Trần Bá Lĩnh đầu quấn dải khăn chàm ướt sũng, ngực trần nhem nhuốc bụi than, hai mắt đỏ ngầu chong chong nhìn vào khe gió thăm lửa. Quanh bệ than, toán thợ già thay phiên nhau kéo bễ, quai búa, dốc cạn từng giọt mồ hôi và sức lực tàn của đời thợ.
Thế nhưng, sự kèm cặp của nha môn còn tàn nhẫn hơn cả hơi nóng lò luyện. Hai tên nha sai lăm lăm gậy sắt đứng sừng sững ngay sau lưng thợ, ánh mắt hau háu như lang sói. Hễ nhịp bễ hơi chùng xuống hay cánh tay người thợ già run rẩy vì kiệt sức, mũi giày da lại đá mạnh vào đùi, tiếng quát tháo the thé chói tai:
“Kéo mạnh tay lên! Thêm than củi vào! Lệnh của Thượng thư đại nhân đúc mười vạn tiền trong mười ngày, chậm trễ một khắc là gông cổ cả lũ!”
Những người thợ cắn răng nuốt nhục, bàn tay phồng rộp tứa máu vẫn phải ghìm chặt lấy cần gỗ bễ thụt, đôi chân trần đạp trên nền đất bỏng rát.
Khang Triệu Nghị đứng lặng bên cây cột đá của gian xưởng. Vận thuật tĩnh khí để hơi thở điều hòa êm ả, cụ chăm chú dõi theo từng biểu hiện dị thường nơi miệng lò.
Khi sức nóng lên tới đỉnh điểm, lúc quặng thô bắt đầu tan chảy trong nồi đất thầu dầu, dị tượng ghê gớm liền phơi bày. Một luồng khói xám đục đặc quánh cuộn trào lên nóc xưởng, bốc mùi hăng khét lạ thường làm cay xè sống mũi và bỏng rát cuống họng. Đó không phải mùi ngai ngái quen thuộc của đồng đỏ nguyên chất khi hòa cùng than nghiến, mà là mùi tanh nồng, hăng hắc của xỉ kẽm bở rệu và chì phế phẩm bị nung ép ngặt nghèo.
Bên trên miệng nồi nấu, dòng kim loại lỏng không hề có màu đỏ tía sóng sánh thuần khiết. Lớp bọt xỉ đen đặc sủi bục bục, trào ngập miệng nồi như bùn lầy gặp sôi.
“Cụ Giám sự! Xỉ kẽm trào nhiều quá, cào không sao xuể!”
Trần Bá Lĩnh hét lên trong tuyệt vọng. Đôi tay sần sùi của người thợ cả cầm thanh cào sắt liên tục gạt từng mảng xỉ đen quánh đổ ra máng gạn. Nhưng hớt được lớp này thì lớp xỉ khác lại từ đáy nồi sôi trào đùn lên, bám chặt lấy dòng kim loại.
Khang Triệu Nghị bước tới mép bệ, khẽ lắc đầu quặn thắt. Cụ biết rõ, với hơn bốn phần mười đồng đỏ ròng bị bòn rút, dù tài nghệ của Bá Lĩnh có bậc thượng thừa cũng không thể dùng lửa than nghiến để thanh tẩy lượng tạp chất hung hãn nhường ấy.
Khi dòng nước đồng đỏ thẫm đục ngầu ấy được rót vào các xâu khuôn đúc bằng đất nung xếp dọc theo rãnh cát, kim loại tuôn ra phát từng tiếng nổ lép bép khô khốc. Khói đen cuộn lên che khuất cả ánh đuốc nha môn. Lê Hữu Cung đứng bên cạnh, hai bàn tay gân guốc siết chặt gáo múc đồng cán dài, quai hàm bạnh ra nghiến chặt. Từng giọt kim loại rơi vào miệng rót đều sủi bọt khí li ti, báo hiệu một kết cục thảm hại.
Chín ngày chín đêm đọa đày trôi qua trong tiếng bễ rên xiết và sự hối thúc tàn nhẫn của bầy nha sai.
Rạng sáng ngày thứ mười.

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…