Chậu Nước Tôi Đồng Soi Thấu Bẫy Nha Môn
Chương 7: Đột nhập bãi phế xỉ
Gió bấc rít từng cơn lạnh buốt qua rặng tre già ven sông Tô Lịch, cuốn theo màn mưa phùn dày đặc quất rát mặt. Lách mình qua cánh cửa liếp phía sau xưởng đúc của sư phụ, Lê Hữu Cung kéo sụp vành nón mê, siết chặt vạt áo tơi lá cọ vào người. Bàn tay gân guốc ghì lấy thắt lưng, nơi giắt con dao găm chuôi sừng và tấm thẻ bài kiểm kho bằng đồng đen lạnh ngắt. Đêm đã điểm canh ba, khắp phường thợ chìm trong bóng tối mịt mùng, chỉ còn tiếng ếch nhái râm ran hòa lẫn tiếng nước sông vỗ bì bọp vào chân kè đá.
Hữu Cung cắm đầu rảo bước men theo con đường mòn lầy lội dẫn về phía sau Cục Đúc Tiền. Từng lời dặn dò của Khang Triệu Nghị vẫn vang vọng bên tai: bọn gian thương vội vã phi tang quặng bẩn chắc chắn chỉ dám đào lấp qua loa ở góc khuất, mẫu xỉ kẽm bốc mùi hăng nồng chính là bằng cớ duy nhất cứu mạng các bậc cha chú lò số bảy. Nghĩ đến cảnh thợ cả Trần Bá Lĩnh cùng toán thợ già đang chịu cảnh gông cùm nơi ngục tối, hai hàm răng chàng bất giác nghiến chặt.
Chẳng mấy chốc, bức tường gạch vồ bao quanh khu bãi thải nha môn đã hiện ra mờ ảo dưới làn mưa. Bãi phế xỉ kim loại rộng thênh thang, là nơi chất đống phôi vụn, xỉ than nghiến cùng đất khuôn vỡ suốt mấy chục năm, nhấp nhô như những gò hoang. Bình thường nơi đây lính canh tuần tra nghiêm ngặt, song đêm nay mưa gió mịt mùng, hai tên gác chái tây đã rụt vào điếm canh ọp ẹp, vừa co ro quanh hũ rượu ngô vừa gà gật tránh rét.
Nép vào bụi duối, chờ cơn gió quất tắt ngọn đèn lồng trước điếm canh, Hữu Cung thoăn thoắt lách tới cổng ngách bằng gỗ lim. Chàng khéo léo luồn cạnh tấm thẻ bài đồng đen qua khe ván, nhẹ nhàng trượt then chốt mục rỉ rồi lọt vào bên trong mà không phát ra một tiếng động nhỏ.
Không gian bên trong nồng nặc mùi diêm sinh khét lẹt lẫn kim khí ẩm mốc. Từng đống phế xỉ đen ngòm ngổn ngang, trơn trượt dưới chân. Khom lưng dò bước, chàng bỏ qua các gò than cũ đóng rêu xám, rà sát mũi giày dọc chân tường đông bắc giáp bến nước của con lạch nhỏ.
Đúng như dự đoán của sư phụ, tại hõm đất khuất dưới tán cây thị cổ thụ, lớp bùn non có dấu vết vừa bị cuốc xới nham nhở. Đất đen bị xới tung, vương vãi những vụn than chưa kịp rữa, bên trên chỉ được phủ sơ sài một lớp tro trấu ướt sũng hòng che mắt thiên hạ.
Hữu Cung quỳ một chân xuống nền bùn, rút con dao găm bên hông gạt lớp tro trấu rồi cắm mũi thép đào sâu xuống. Lưỡi dao chạm phải vật rắn phát ra tiếng “cạch” khô khốc. Chàng vội vàng dùng tay bới mạnh, lôi lên một vốc quặng vụn xám ngoét.
Đưa mẩu quặng lên sát mũi, mùi hăng nồng gay gắt lập tức xộc thẳng vào cánh mũi, vừa khét mùi kẽm cháy vừa tanh lợm mùi xỉ chì phế phẩm rẻ tiền, khác hẳn mùi thơm đượm nồng ấm của đồng đỏ nguyên chất khi tra lò. Thớ quặng bở rệu, lấm tấm những lỗ rỗ xốp như tổ ong.
“Đúng là thứ xỉ bẩn này rồi!” Hữu Cung thầm nhủ, lồng ngực đập rộn rã.
Chàng nhanh chóng móc từ vạt áo tơi ra chiếc túi vải dầu chống nước đã chuẩn bị sẵn, nhặt từng cục xỉ kẽm to bằng nắm tay cùng những thỏi chì vụn nhét chặt vào trong. Gói kín bốn góc, chàng dùng dây gai buộc chặt chiếc túi trước ngực, áp sát vào da thịt ấm nóng.
Vừa đứng thẳng người toan lùi bước, đôi tai thính nhạy của chàng chợt giật thót.

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…