Chỉ Đỏ Buộc Nắp Quan Ven Đầm Sen Cạn

Chương 17: Đổi Mảnh Đất Oan Khiên

Ánh mai đầu ngày rọi qua kẽ liếp nứa của điếm canh đê số 4, dát những vệt vàng ấm áp lên khoảng sân đất nện phẳng phiu. Chưa kịp dứt cữ khói thuốc lào thơm mùi rơm rạ, tiếng bước chân rậm rịch cùng tiếng người gọi nhau í ới đã dội lại từ phía dốc đê. Đại diện Đảng ủy, Ủy ban xã Sen Chiểu cùng Ban quản trị Hợp tác xã Nông nghiệp làng Sen Cạn đã tề tựu đông đủ bên chân đê theo lời cấp báo khẩn thiết của đội tuần tra dân quân xóm Đông.

Bá Cương đứng tựa lưng vào cột điếm canh bằng gỗ xoan, lặng lẽ quan sát đoàn người vây quanh chiếc bàn mộc kê vội giữa bãi cỏ may. Trên mặt bàn, chiếc can sắt tây nồng nặc mùi dầu hỏa, bao diêm Thống Nhất cùng bản tường trình vấy mực tím của Nguyễn Khắc Lũy nằm phơi bày dưới ánh ban mai trong trẻo. Người Đội trưởng dân quân đanh giọng thuật lại rành rẽ toàn bộ diễn biến đêm qua, từ vụ lén lút tưới dầu mưu toan phóng hỏa diệt khẩu cho đến giây phút cỗ quan tài gỗ dâu rừng nứt toạc, vạch trần tội ác rúng động ba mươi tám năm trước.

Đồng chí Bí thư chi bộ xã — một thương binh cụt chân chống gậy bước tập tễnh — run rẩy cầm bản tường trình cùng tờ văn tự ép gán ba mẫu ruộng loang lổ vết máu khô của người bạc mệnh. Đôi mắt người cán bộ đỏ hoe vì căm phẫn lẫn xót xa. Giữa tiếng xôn xao bàn tán của hàng trăm xã viên đứng chen chúc trên triền đê, đồng chí cất giọng đanh thép: — Thưa toàn thể bà con xã viên! Tội ác vu oan giá họa, chôn sống mẹ con cô đào nương Thị Loan năm Ất Dậu của cố Lý trưởng Nguyễn Khắc Hào là một vết nhơ tày trời thời phong kiến mục ruỗng. Bản thân ông Nguyễn Khắc Lũy vì lòng tham và thói che đậy cục bộ đã toan tính thiêu rụi tang chứng, bức hại công trình phòng lũ sinh tử của toàn dân. Nay Đảng ủy và Ban quản trị Hợp tác xã công bố quyết định đình chỉ toàn bộ chức vụ Chủ nhiệm của ông Lũy, chuyển toàn bộ hồ sơ tang vật sang cơ quan pháp luật để thụ lý nghiêm minh theo luật định!

Lũy lúc này quỳ thụp một góc dưới chân đê, chiếc áo bông chần cổ lông lấm lem bùn đất, đầu cúi gằm xuống ngực, đôi vai so lại như một cái xác rỗng. Hắn không còn chút quyền uy hách dịch nào của một cán bộ đứng đầu hợp tác xã; chung quanh hắn chỉ còn những cái nhìn khinh bỉ và tiếng thở dài chua xót cho một dòng họ gây ác chuốc nghiệp.

Đồng chí Bí thư giơ cao tờ văn tự cũ kỹ, hướng về phía đầm sen cạn trải dài tít tắp: — Về ba mẫu ruộng hương hỏa ven đầm sen cạn mà ông Lũy đã viết giấy tự nguyện giao trả lại cho làng, tập thể xã ta thống nhất không chia cày cấy để trục lợi. Nơi từng nhuốm máu oan khiên của người vô tội sẽ được chuyển đổi làm công trình phúc lợi chung. Mùa xuân tới, sau khi đắp xong con đê quai vạc, xã sẽ trích quỹ phúc lợi xây dựng một ngôi nhà mẫu giáo khang trang ngay trên mảnh đất ấy. Tiếng cười đùa trong trẻo của con trẻ mai này sẽ xua tan mọi u uất của quá khứ, bù đắp phần nào cho sinh linh bé bỏng chưa kịp cất tiếng khóc chào đời!

Lời tuyên bố vừa dứt, khắp triền đê bỗng rộ lên những tràng pháo tay giòn giã. Nhiều bà, nhiều chị đưa vạt áo lau nước mắt, gật đầu tấm tắc: — Phải lắm, làm nhà trẻ là trúng đạo lý nhất trần đời! Người nằm dưới suối vàng nghe thấy chắc cũng được ngậm cười nhắm mắt!

Giữa lúc ấy, bà Chánh Hợi chống gậy trúc, lưng còng rạp chầm chậm bước ra giữa bãi đất trống. Bàn tay gầy guộc như cành củi khô của bà run rẩy mân mê chuỗi tràng hạt bồ đề nhẵn bóng. Nhìn về phía đầm sen cạn đang sưởi mình dưới nắng sớm, đôi mắt mờ đục quanh năm chảy ghèn của bà lão bảy mươi tám tuổi bỗng ứa ra hai dòng lệ trong veo. Từng giọt nước mắt lăn dài trên gò má nhăn nheo, trút bỏ gánh nặng đè trĩu cõi lòng: — Lạy trời lạy Phật, lạy vong linh cô Loan... Ba mươi tám năm nay, già này ăn không ngon, ngủ không yên, đêm nào nhắm mắt cũng nghe tiếng móng tay cào vách gỗ kêu cứu dưới bùn lầy. Cứ ngỡ phải mang cái bí mật tội lỗi này xuống mồ, may nhờ có ông Biện can trường, nhờ chính quyền sáng suốt soi xét... Giờ đây oan khuất tỏ tường trước bàn dân thiên hạ, mảnh đất cướp đoạt được trả lại cho trẻ thơ, già này có nhắm mắt xuôi tay cũng không còn hổ thẹn với lương tâm nữa rồi!

Mấy người phụ nữ trong làng ùa lại đỡ lấy bà lão, từng lời an ủi mộc mạc cất lên xoa dịu đi nỗi dằn vặt gần nửa đời người của nhân chứng già nua.

Đến quá trưa, cuộc họp khẩn tan dần, xã viên lục tục kéo nhau về thôn xóm chuẩn bị tre nứa và quang sọt để tiếp tục đắp đê. Khoảng sân trước điếm canh đê số 4 trở lại vẻ tịch mịch, chỉ còn tiếng sóng sông Đáy vỗ ì oạp vào dải bãi bồi phù sa.

Bá Cương ngồi nơi bậu cửa điếm canh rít một mồi thuốc lào thì ngoài đường cái bỗng có tiếng gậy tre lộc cộc gõ xuống sỏi đá. Ông ngẩng lên, ngạc nhiên khi thấy hai bóng người gầy guộc đang dìu nhau bước tới. Đó là anh Khoái và anh Dần, hai người thợ phụ ở xóm Đông từng bị tà khí quật ngã sốt mê sảng mấy ngày qua. Sắc mặt hai người tuy còn xanh xao, manh áo nâu bạc màu bay phần phật trong gió bấc, nhưng ánh mắt đã hết vẻ đờ đẫn hoảng loạn, thay vào đó là sự tỉnh táo và rạng rỡ của người vừa bước qua cửa tử.

Vừa bước qua ngưỡng cửa điếm canh, Khoái và Dần liền buông gậy tre, toan sụp lạy xuống đất. Bá Cương vội vàng buông điếu cày, sải bước ra đỡ lấy hai người, giọng rầy rà mà ấm áp: — Kìa hai chú, làm cái trò gì thế? Người mới gượng dậy sau cơn bạo bệnh, gió bấc ngoài sông thổi buốt thế này sao không ở nhà húp bát cháo hành tía tô cho lại sức?

Khoái nắm chặt lấy bàn tay chai sần của người thợ cả, khóe mắt đỏ hoe, giọng nghẹn ngào: — Bác Cương ơi, ơn cứu mạng của bác và anh Thảo, anh em chúng cháu đội trên đầu suốt đời này! Đêm qua đang mê man nóng như nung trong chảo lửa, tự dưng chúng cháu thấy người nhẹ bẫng, trong ngực hết hẳn cảm giác nghẹn thở, mở mắt ra mới biết cỗ quan đã được bác phá phong ấn. Chúng cháu nghe tin làng họp dưới chân đê, không thể ngồi yên ở nhà được.

Dần tiếp lời, vẻ mặt đầy kiên định: — Thưa bác, chúng cháu tuy sức chưa phục hồi hẳn, nhưng việc chân tay đào xới ngoài bãi thì vẫn làm được. Xin bác cho chúng cháu theo phụ việc vòng ngoài, gánh đất đắp bờ, bốc dời nốt mấy ngôi mộ đất còn lại ở Mả Bụt lên gò Nghinh Phong. Phải dọn sạch nghĩa địa đúng hạn bảy ngày để máy ủi vào đắp đê ngăn lũ, không thể để một mình bác với anh Thảo gánh hết cơ cực!

Nhìn tấm lòng chân chất, trọn nghĩa vẹn tình của hai người thợ trẻ, Bá Cương khẽ mỉm cười gật đầu, lòng dâng lên niềm an ủi khôn xiết. Ông vỗ vai từng người, dặn dò họ chỉ được làm việc nhẹ, tuyệt đối không được gắng sức khi hàn khí chưa tan hẳn.

Sẩm tối buông xuống vùng chiêm trũng, mang theo cái rét ngọt đầu đông. Bên trong điếm canh đê số 4, ngọn đèn bão tỏa ánh sáng vàng dịu soi rõ không gian tĩnh mịch, trang nghiêm. Cỗ áo quan gỗ dâu rừng sau khi được tẩy uế nằm im lìm trên hai hàng gạch mộc, dải lụa điều phủ kín bên trên che chở cho hai mẹ con bạc mệnh.

Bá Cương bước lại góc phòng, nơi đặt chiếc tiểu sành men da lươn vừa được lau rửa tinh tươm. Chiếc tiểu sành tráng lớp men màu nâu cánh gián óng ả, dày dặn và chắc chắn như một mái nhà che chở cho giấc ngủ nghìn thu. Đây là chiếc tiểu quý nhất mà ông đã dùng toàn bộ số công điểm tích cóp ròng rã suốt mấy vụ chiêm vừa qua để đổi lấy từ cửa hàng mua bán tổng hợp của xã, cất giữ cẩn thận cho thời khắc trọng đại. Bên cạnh tiểu sành, tấm vải điều đỏ tươi bằng lụa tơ tằm mềm mại được ông vuốt phẳng phiu, xếp ngay ngắn trên chiếc nong tre sạch sẽ.

Mọi thứ đã sẵn sàng cho canh giờ Tý linh thiêng đêm nay. Đêm thứ sáu của cuộc đại di dời, ông sẽ tự tay dùng nước vang ngũ vị lau rửa từng mẩu xương tàn nhuốm màu hoàng thổ, rũ bỏ hết bùn lầy nhơ nhớp của ba mươi tám năm đọa đày để đưa hai linh hồn về cõi vĩnh hằng thanh tịnh.

Khi chạm tay vào chiếc tiểu sành da lươn mát lạnh, Bá Cương thoáng thấy bóng dáng Thảo đứng bên cạnh với ánh mắt kiên định lạ thường, đôi bàn tay băng bó nay đã vững vàng nâng niu đồ nghề sang cát.

Đăng nhập để thả tim Đăng nhập để tương tác

Ủng hộ tác giả Lam Viên
Mỗi lời động viên là động lực để tác giả tiếp tục sáng tác.

Lam Viên

Tác giả của câu chuyện này · Hãy cùng ủng hộ những chương tiếp theo.

Đăng nhập để theo dõi

Bình luận chương 0

Đăng nhập để tham gia bình luận.

Đang tải bình luận…