Chỉ Đỏ Buộc Nắp Quan Ven Đầm Sen Cạn
Chương 16: Giọt Lệ Sám Hối
Bá Cương khẽ gật đầu với người dân quân trẻ vừa chạy vào báo tin, giọng ông khàn đi vì thức trắng nhưng ấm áp lạ thường: — Chú về bảo người nhà nấu thêm cho anh Khoái với anh Dần nồi cháo tía tô giải cảm, dặn hai người cứ yên tâm tịnh dưỡng trong buồng kín, tuyệt đối chưa được ra đón gió bấc. Chuyện đắp đê dời mả ngoài này đã có cha con tôi lo liệu.
Người thanh niên dạ ran rồi quay gót chạy vội về phía xóm trong, tiếng chân giẫm trên bùn nhão lẹt xẹt xa dần. Bá Cương quay vào gian điếm canh, đưa mắt rà soát một lượt khắp căn phòng. Gió bão ngoài trời đã ngớt hẳn, chỉ còn tiếng mưa phùn lất phất gõ nhịp đều đều lên mái ngói tróc lở. Dưới ánh sáng vàng vọt của hai ngọn đèn chai, cỗ quan gỗ dâu rừng nằm ngay ngắn trên hai hàng gạch mộc, dải lụa điều đỏ thắm phủ kín miệng ván ngăn luồng gió lạnh thốc vào đáy áo quan. Trên chiếc mâm đồng đặt nơi góc bệ gạch, năm cây đinh đồng hoen gỉ dài hơn nửa gang tay nằm im lìm bên cạnh chiếc kéo đồng ngâm rượu gừng và những búi chỉ đỏ bện tóc đã mục rã thành tro vụn.
Bá Cương cẩn thận xếp lại tờ văn tự ép gán ruộng đẫm máu khô cùng cuốn tà thư bọc da thú trên chiếc chõng tre, dặn hai người dân quân bồng súng đứng gác: — Cửa bạt phải chèn cho thật khép, không ai được tự ý xê dịch bất cứ thứ gì trong điếm canh. Chốc nữa trời rạng, các đồng chí bên Đảng ủy và Ủy ban xã sẽ qua đây thị sát. Hiện trường này phải giữ nguyên vẹn để bàn dân thiên hạ cùng tỏ tường sự thật lịch sử.
Hai người dân quân xóm Đông nghiêm cẩn gật đầu, đứng thẳng lưng trước cửa liếp, ánh mắt nhìn cỗ quan tài gỗ dâu rừng đầy vẻ kính cẩn và xót xa.
Bá Cương bước chậm rãi lại gần góc phản, nơi Khắc Tiến đang ngồi tựa lưng vào vách nứa. Chàng trai mười tám tuổi thở từng nhịp êm ả, gương mặt dù còn xanh xao nhưng thần sắc đã hoàn toàn bình ổn. Bá Cương ngồi xổm xuống, đưa những ngón tay thô ráp chai sạn khẽ vén lớp băng gạc trắng quanh cằm và cổ họng Tiến. Kỳ lạ thay, những vết cào sâu hoắm rỉ máu đen tanh tưởi lúc nửa đêm nay đã se miệng khô ráo, kéo da non đỏ ửng như vết trầy xước bình thường. Trong đôi mắt mở to của chàng trai trẻ không còn vẻ điên dại đục ngầu tà khí, chỉ đọng lại sự kinh hoàng muộn màng và nỗi hổ thẹn khôn cùng.
Thấy người thợ già ân cần xem xét vết thương, Tiến run rẩy chắp hai tay trước ngực, nước mắt ứa ra làm nhòe bờ mi: — Bác Cương... ơn cứu mạng của bác và anh Thảo, cả đời này cháu không bao giờ dám quên. Lúc nãy... lúc tà khí còn quẩn quanh người, cháu thấy rõ ràng người phụ nữ áo nâu bế bọc máu đỏ hờn oán chỉ tay vào mặt cháu... Nếu bác không nhổ đinh rưới nước vang, chắc cháu đã cắn lưỡi nôn máu mà chết rồi bác ơi...
— Cháu vô tội, cái oan khiên ấy không phải do cháu gây ra. — Bá Cương vỗ nhẹ lên bả vai run rẩy của Tiến, giọng trầm tĩnh phân minh. — Nhưng huyết mạch ruột rà thì nghiệp chướng khó tránh. Vong linh người ta tha cho cháu một mạng là vì thấy cháu còn giữ được thiên lương, biết chỉ nơi cất giấu chiếc hòm gỗ để phơi bày oan khuất. Hãy nhớ lấy bài học xương máu này mà sống cho ngay thẳng, chớ giẫm vào vết xe đổ của đời trước.
Tiến nức nở gật đầu, nép sát vào góc phản không dám ngẩng lên.
Cách đó mấy bước chân, ngay dưới mũi cỗ quan tài, Nguyễn Khắc Lũy vẫn quỳ phục sát mặt đất. Manh áo bông chần cổ lông xanh bạc màu bê bết bùn đất và những vệt mật nôn thốc lúc nửa đêm. Vị Chủ nhiệm Hợp tác xã từng một thời hách dịch, quát tháo rền vang khắp các buổi họp xã viên, nay thu mình lại như một cái bóng tàn tạ. Suốt từ canh ba đến tận lúc trời hửng, Lũy không hề dám nhấc đầu lên khỏi mặt đất, hai đầu gối quỳ miết vào lớp gạch mộc lạnh ngắt đến tê dại. Tiếng khóc thút thít nghẹn ngào trong cổ họng hắn hòa lẫn tiếng thở dài sầu thảm. Mỗi khi ngọn gió bấc lùa qua khe liếp làm dải lụa điều lay động, toàn thân Lũy lại run rẩy như cầy sấy.
Bá Cương bước đến đứng sừng sững bên cạnh, bóng ông đổ dài trên nền đất ẩm: — Đứng dậy đi, ông Lũy. Quỳ rạp ở đây suốt mấy tiếng đồng hồ cũng chẳng làm người nằm dưới đáy ván sống lại được đâu.
Lũy chầm chậm ngẩng mặt lên. Gương mặt vuông chữ điền ngày nào giờ đây nhăn nhúm, hốc hác, đôi mắt ti hí sưng mọng đỏ ngầu vì khóc và sợ hãi. Vết toác trên trán do đập đầu vào gạch đã đóng vảy máu đen sì, hòa cùng bụi tro lem luốc. Hắn quỳ gối lết lại gần chân Bá Cương, hai bàn tay run bần bật nắm chặt lấy gấu manh áo tơi lá gồi, cất giọng khàn đặc van lơn: — Ông Biện... tôi sai rồi... Tôi thật sự biết tội của cha con tôi rồi! Năm ấy tôi mới mười hai tuổi, thấy thầy tôi cùng mấy tên tay sai nửa đêm khiêng cỗ ván ra đầm... Thầy tôi trước lúc lâm chung giao chiếc hòm gỗ, dặn tôi phải sống để giữ lấy cơ nghiệp ba mẫu ruộng ven đầm, tuyệt đối không được hé răng... Ba mươi tám năm qua, đêm nào tôi cũng mơ thấy tiếng móng tay cào vào vách gỗ, nhưng lòng tham với nỗi sợ mất danh dự làm tôi mù quáng... Tôi xin ông... ông chỉ đường cho tôi chuộc tội...
Bá Cương nhìn xoáy vào đôi mắt thất thần của viên chủ nhiệm, ánh mắt nghiêm nghị như một quan tòa công tâm nơi hương thôn: — Muốn chuộc tội thì phải rũ bỏ hết lòng tham và sự dối trá. Lòng người khuất mặt sáng như gương, nửa điểm giả dối cũng không qua mắt được họ. Anh Thảo, lấy cho ông chủ nhiệm tập giấy với cây bút.
Biện Văn Thảo nãy giờ đứng bên cạnh bàn nước vang, liền bước tới rút từ trong túi dết vải bạt ra tập giấy kẻ ngang xỉn màu cùng cây bút máy vỏ nhựa. Thảo đặt tập giấy lên mặt chiếc hòm gỗ lim đã mở toang nắp, lùi lại đứng cạnh cha, đôi mắt đăm chiêu nhìn người cán bộ quyền thế vừa bị lột trần tội ác.
Lũy quỳ rạp bên mép hòm gỗ, bàn tay run rẩy cầm lấy cây bút. Từng giọt mồ hôi lạnh túa ra trên trán nhỏ xuống mặt giấy trắng. Dưới ánh đèn chai tù mù, Lũy cắn chặt môi, nắn nót viết từng dòng chữ vụng về nhưng dứt khoát. Hắn viết bản tường trình nhận tội, khai rõ toàn bộ hành vi sai trái của cố Lý trưởng Nguyễn Khắc Hào năm Ất Dậu 1945 trong việc vu oan giá họa, đóng đinh chôn sống mẹ con đào nương Thị Loan để cướp ba mẫu ruộng hương hỏa. Ở phần cuối bản cam kết, Lũy nghẹn ngào ghi rõ đơn xin từ chức Chủ nhiệm Hợp tác xã Nông nghiệp làng Sen Cạn, đồng thời tự nguyện hiến trả toàn bộ mảnh đất hương hỏa ven đầm sen cạn cho tập thể thôn để làm công trình phúc lợi chung.
Ký xong tên mình, Lũy run rẩy ấn ngón tay cái dính mực tím xuống góc giấy làm dấu điểm chỉ, rồi hai tay nâng bản tường trình dâng lên trước ngực Bá Cương, nước mắt giàn giụa: — Thưa ông Biện... các anh dân quân... Đây là tất cả những gì tôi có thể làm để tạ tội với hương hồn cô Loan và bà con làng xóm. Mảnh đất ven đầm nhuốm máu oan khiên ấy, dòng họ Nguyễn Khắc chúng tôi không dám tơ hào một tấc nào nữa. Xin giao lại cho tập thể...
Người đội trưởng dân quân xóm Đông bước tới, cẩn trọng đón lấy bản tường trình gấp lại bỏ vào túi áo ngực cài khuy, khẽ gật đầu: — Việc này sáng nay chúng tôi sẽ nộp ngay lên Đảng ủy và Ủy ban xã để thụ lý theo đúng quy định.
Bá Cương nhìn Lũy đang sụp lạy dưới đất, cất giọng đanh thép nhưng chất chứa nỗi niềm cảm hóa: — Ông Lũy, ông nghe cho rõ đây. Tội lỗi của ông với người sống, với công quỹ và bà con xã viên thì chính quyền và pháp luật sẽ phân xử công minh. Còn món nợ máu thịt với mẹ con người nằm dưới ván kia, ba mươi tám năm đọa đày trong bùn lạnh không thể dùng vài ba dòng chữ hay mảnh đất kia mà rửa sạch được đâu. Cái chết oan khuất của hai sinh linh chỉ được xoa dịu khi kẻ mang dòng máu thủ ác biết cúi đầu sám hối bằng tất cả tâm can. Đêm mai sang cát quy táng, cha con ông phải mặc áo gai quỳ dâng hương suốt tuần lễ. Nếu lòng dạ còn gợn chút giả dối, nghiệp báo truyền đời sẽ không buông tha cho dòng họ ông đâu.
— Vâng... vâng... Tôi xin ghi lòng tạc dạ lời răn của ông Biện! — Lũy dập đầu vâng dạ, nước mắt thấm đẫm vạt đất mộc.
Bá Cương xoay người, bước chầm chậm ra ngoài hiên điếm canh đê số 4. Cơn gió sớm đầu ngày thổi tới mơn man làn da thô ráp sạm gió bấc, mang theo vị ngai ngái nồng nàn của đất bãi và hơi thở mát lành của dòng sông Đáy phù sa. Phía chân trời đằng đông, màn đêm đen đặc đã rách toạc, để lộ những vệt mây hồng le lói ánh mai rạng rỡ.
Phóng tầm mắt nhìn ra đầm sen cạn trải dài tít tắp, Bá Cương thấy những cuống sen khô gãy gục trong bùn lầy không còn mang vẻ quái dị, dữ dằn của nanh vuốt oan khiên như những đêm trước nữa. Chúng lặng lẽ nép mình dưới làn sương sớm đang tan dần, thanh thản đón những tia nắng ấm áp đầu tiên sau chuỗi ngày bão dập gió vùi.
Bá Cương khẽ chạm tay vào chuôi con dao bài gia truyền giắt bên hông, lòng dâng lên một niềm xúc động trang nghiêm. Hướng ánh mắt nhìn ra đầm sen cạn đang le lói ánh mai đầu ngày, Bá Cương hiểu thời khắc thiêng liêng nhất của người thợ bốc mộ đã điểm: tự tay dùng nước vang ngũ vị lau rửa sạch nắm xương tàn để đưa người khuất về cõi vĩnh hằng trên gò Nghinh Phong lộng gió.

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…