Chỉ Đỏ Buộc Nắp Quan Ven Đầm Sen Cạn

Chương 12: Khế Ước Dưới Gầm Giường

Tiếng gào thất thanh của người dân quân trẻ vừa dứt, một luồng gió bấc buốt nhói thốc qua triền đê, quất phần phật vào manh áo tơi lá gồi của Biện Bá Cương. Mùi dầu hỏa từ chiếc can sắt tây đổ nghiêng dưới chân vẫn bốc lên khét lẹt giữa màn sương muối.

Bá Cương nhìn xoáy vào Nguyễn Khắc Lũy. Viên chủ nhiệm năm mươi tuổi đang ngồi bệt dưới lớp cỏ đẫm bùn, toàn thân run lẩy bẩy như cầy sấy, ánh mắt dại đi vì kinh hãi.

— Nghe thấy chưa ông Lũy? — Bá Cương đanh thép lên tiếng. — Nghiệp báo đời cha nay trút thẳng xuống đầu con trai ông. Nếu ông còn giấu giếm, e rằng giọt máu duy nhất nối dõi họ Nguyễn khó lòng giữ nổi qua đêm nay!

Anh đội trưởng dân quân xóm Đông siết chặt báng súng K63, lập tức lôi Lũy dậy: — Chú Lũy, đứng lên! Tính mạng con người là trên hết, không thể chậm trễ!

Đoạn, anh phân công hai dân quân ở lại canh giữ cỗ ván gỗ dâu và điếm canh số 4, rồi cùng Bá Cương, Thảo áp giải Lũy về nhà họ Nguyễn. Thảo đưa đôi bàn tay quấn vải nâu sạch sẽ dìu bà Chánh Hợi bước theo sau. Đoàn người hối hả rảo bước trong mưa phùn gió bấc. Ngọn đèn bão trên tay người đội trưởng chao đảo xé tan màn đêm, hắt những vệt sáng vàng vọt xuống con đường đất trơn như đổ mỡ.

Căn nhà năm gian ngói vảy cá của họ Nguyễn sừng sững bên rặng nhãn già xóm Chùa, từng là tư dinh khét tiếng của cố Lý trưởng Nguyễn Khắc Hào. Bước qua bậu cửa gỗ lim nặng trịch, mùi ẩm mốc cùng hương tàn khói lạnh xộc thẳng vào mũi Bá Cương. Ánh đèn bão quét qua hàng cột quân đen bóng, in bóng mọi người lên vách vôi tróc lở loang lổ.

Khắc Lũy lảo đảo tựa vào góc cột, hai hàm răng đánh vào nhau lập cập: — Các... các đồng chí làm chứng cho tôi... Nhà tôi chỉ có đồ thờ tự tổ tiên, tuyệt đối không có hòm xiểng tà thư gì hết...

— Có hay không, kéo ra là rõ! — Bá Cương lạnh lùng ngắt lời, nhìn thẳng vào gầm chiếc sập gụ khảm ốc xà cừ. — Thằng Tiến ban ngày tự cào rách mặt ở đầm sen cạn, vừa rồi lại ú ớ đòi mở nắp hòm gỗ dưới gầm giường. Ông còn định dối trời lừa người đến bao giờ?

Thảo đỡ bà Chánh Hợi ngồi xuống ghế con, rồi cầm đèn bão cúi rạp người soi vào khoảng tối dưới gầm sập. Lớp bụi tro dày hàng gang tay bay lên cay xè. Sau vài tiếng lách cách kéo lê nặng nhọc trên nền gạch tàu, Thảo lôi ra một chiếc hòm gỗ lim đen nhánh, bốn góc bịt đồng gỉ xanh, trên nắp khóa chặt bằng ổ khóa đồng cổ đúc hình cá chép.

— Thầy ơi, đúng là chiếc hòm này rồi! — Thảo ngẩng lên, giọng đanh lại.

Trông thấy chiếc hòm quen thuộc, gương mặt vuông chữ điền của Lũy méo xệch đi. Ông ta ôm chặt lấy vạt áo bông chần cổ lông xanh bạc màu: — Đừng... Đừng mở! Đó là đồ gia bảo cha tôi trăn trối lại, người ngoài chạm vào sẽ phải tội chết!

Bá Cương bước tới một bước, dáng người quắt thước sừng sững áp sát Lũy: — Phải tội chết? Năm xưa cha ông đóng đinh chôn sống mẹ con người ta để cướp ruộng, cái tội tày đình ấy ba mươi tám năm qua trời đất chưa quên! Bây giờ oan hồn đang đòi mạng con ông ở trạm xá, từng tiếng cào xé dưới nắp ván là từng giọt máu của con trai ông cạn dần. Ông muốn ôm chiếc hòm tội ác này xuống mồ, hay muốn cứu lấy giọt máu họ Nguyễn?

Từng lời giáng xuống như búa nện vào tâm can. Nghĩ đến đứa con trai độc nhất, hai đầu gối Lũy mềm nhũn, run rẩy móc chùm chìa khóa đồng cổ trao cho người đội trưởng dân quân.

“Tách!”

Tiếng ngàm khóa bật mở khô khốc. Thảo cẩn trọng nhấc nắp gỗ lim sang một bên. Một mùi tanh tưởi hòa lẫn mùi máu chó khô khốc lưu cữu suốt mấy mươi năm xộc ra nồng nặc, khiến những người đứng xung quanh phải rùng mình lùi lại.

Bá Cương quỳ một gối xuống sàn gạch, gạt lớp vải điều mục nát. Dưới đáy hòm hiện ra hai vật phẩm chấn động: một tờ giấy dó ngả màu vàng ố và một cuốn sách cổ bìa da thú thẫm đen.

Bá Cương cầm tờ giấy dó lên trước ngọn đèn bão. Từng dòng chữ Nho chân phương hiện rõ: tờ văn tự ép gán ba mẫu ruộng hương hỏa ven đầm sen cạn của góa phụ đào nương Thị Loan cho Lý trưởng Nguyễn Khắc Hào vào mùa đông năm Ất Dậu 1945. Phía dưới góc, bên cạnh con triện son đỏ chót của phủ Lý trưởng, là một vết máu khô thâm sì to bằng ngón tay cái — dấu vết điểm chỉ bằng máu tươi của người đàn bà bị bức hại đến đường cùng!

— Bà Chánh Hợi, bà nhìn xem có đúng vật này không? — Bá Cương trầm giọng hỏi.

Thảo dìu bà Chánh Hợi tiến sát lại mép sập. Đôi mắt mờ đục của bà lão bảy mươi tám tuổi nhìn trừng trừng vào con triện son và vết máu khô loang lổ. Đôi vai còng rạp run bần bật, bà khóc nghẹn: — Đúng con triện phủ Lý trưởng của thằng Hào rồi! Trời cao có mắt! Đêm ba mươi Tết năm ấy đói rét ngút trời, tôi đi mót củ ấu ven đầm, tận mắt thấy thằng Hào cùng bốn đứa tay sai trói nghiến cô Loan, rạch tay ép điểm chỉ vào tờ giấy này... Cô ấy gào khóc xin tha cho đứa con trong bụng, nhưng chúng nó nhét giẻ vào mồm rồi khiêng cỗ ván dìm xuống bùn! Oan khiên ba mươi tám năm nay mới lộ ra ánh sáng!

Nghe tiếng xôn xao giữa đêm mưa gió, mấy người hàng xóm kéo nhau đến đầu thềm. Lời vạch trần nghẹn ngào khiến tiếng xì xào căm phẫn rộ lên: — Trời đất ơi, hóa ra chuyện năm xưa là thật! — Thảo nào đầm sen cạn bao năm nay cỏ rơm không mọc nổi, cứ đến mùa đông gió bấc lại nghe tiếng than khóc!

Trước tang chứng rành rành và sự phẫn nộ của mọi người, Nguyễn Khắc Lũy hoàn toàn sụp đổ. Cái vỏ bọc chủ nhiệm uy quyền vỡ vụn thành từng mảnh. Ông ta khuỵu xuống nền gạch tróc lở, hai tay ôm lấy đầu gối, dập đầu lia lịa trước mặt Bá Cương và bà Chánh Hợi, nước mắt nước mũi giàn giụa: — Tôi có tội... Tôi biết tội rồi! Năm Ất Dậu ấy tôi mới mười hai tuổi, cha tôi trước khi chết trăn trối lại chiếc hòm này, dặn phải giữ kín để họ Nguyễn giữ cơ nghiệp... Khi trên huyện có lệnh dời nghĩa địa Mả Bụt đắp đê quai vạc, tôi sợ cỗ ván bị đào lên sẽ lộ chuyện nên mới ép các người bốc nhanh trong bảy ngày, rồi đêm nay định châm lửa thiêu rụi... Bác Cương ơi, tôi van bác! Xin bác cứu lấy thằng Tiến, cứu lấy đứa con duy nhất của tôi!

Bá Cương không nhìn người đàn ông đang sụp lạy dưới thềm gạch. Ánh mắt ông dán chặt vào cuốn tà thư bọc da thú nhuộm máu chó mực thâm sì. Lật từng trang giấy bản ố vàng mục mép, bên trong vẽ chi chít phù chú ma quái và ghi chép rành rẽ tà thuật “Cửu chuyển phong hồn” — phép yểm dùng chín vòng chỉ đỏ bện tóc người siết chặt ván gỗ dâu để biến người chết thành quỷ câm ngậm máu dưới đáy bùn.

Đến trang cuối cùng, hơi thở Bá Cương bỗng ngưng bặt.

Dưới ánh đèn bão chao đảo theo cơn giật gió, một bức vẽ hình nhân hiện ra với năm vị trí cắm đinh đồng ở đầu, ngực, rốn và hai đầu gối. Phía dưới bức vẽ là dòng chữ son đỏ quạch rợn người:

“Cửu chuyển tỏa hồn, ngũ đinh triệt mệnh. Nhược phi chính Tý hàn dạ bạt đinh giải phong, tắc thủ ác chi huyết duệ tất thổ hắc huyết nhi tòng táng.”

Cầm bản tà thư trong tay, Bá Cương rùng mình, sống lưng lạnh toát như có tảng băng áp vào da thịt. Lời cảnh báo rợn người của tà pháp năm xưa hiển hiện rõ ràng: nếu không nhổ đinh phong ấn vào đúng giờ Tý đêm bão đông, kẻ mang dòng máu thủ ác sẽ nôn ra máu đen mà chết theo người dưới huyệt.

Bá Cương ngước nhìn chiếc đồng hồ quả lắc cũ kỹ treo trên xà nhà. Kim đồng hồ đang nhích dần về mười hai giờ đêm — thời khắc chính Tý lạnh buốt. Ngoài trời, một hồi gió bấc rít lên điên cuồng, báo hiệu trận bão đông khủng khiếp nhất trong năm đang ập xuống làng Sen Cạn.

Đăng nhập để thả tim Đăng nhập để tương tác

Ủng hộ tác giả Lam Viên
Mỗi lời động viên là động lực để tác giả tiếp tục sáng tác.

Lam Viên

Tác giả của câu chuyện này · Hãy cùng ủng hộ những chương tiếp theo.

Đăng nhập để theo dõi

Bình luận chương 0

Đăng nhập để tham gia bình luận.

Đang tải bình luận…