Chõ Nồi Hấp Lá Thuốc Đánh Bạt Khí Lạnh Đầm Lầy
Chương 11: Hương Tràm Xua Muỗi Bến Sông
Gió lạnh từ mặt nước thổi thốc vào bờ, mang theo hơi sình nồng nặc và làm lá cờ lệnh đỏ quạch nơi đầu bến rạch phần phật xé toạc màn sương chiều. Thằng Bảy Đước đứng chôn chân bên mép rào nứa, hai bờ vai gầy nhấp nhô theo từng nhịp thở dồn dập. Xung quanh nó, mấy chục tá điền vừa nghe tin dữ đã dạt lại gần, người run rẩy bấu chặt cán cuốc, kẻ mặt mày xám ngoét thì thầm to nhỏ: — Chết rồi... Cờ của Hương cả cắm xuống là không xong rồi! Năm ngày nữa lính tỉnh kéo sang thì chòi nát này thành tro bụi mất thôi! — Còn bên xóm Cây Me nữa, đái ra nước đen thui là ma quỷ róc ruột đó đa!
Cụ Ba Khiêm bước tới, bàn tay khô ráp sạm khói củi đặt nhẹ lên vai Bảy Đước. Cái siết tay bình thản của cụ như một mỏm đá neo chặt con thuyền đang chòng chành giữa sóng dữ. Cụ phóng tầm mắt nhìn thẳng ra lá cờ vải đỏ cắm trơ trọi giữa bãi bùn, đoạn cất giọng trầm ấm mà rành rẽ: — Bà con đừng hoảng loạn. Cờ lệnh của người ta cắm bằng tre gỗ, chứ đâu phải lưỡi hái vô hình mà lấy được mạng người ngay tức khắc. Mầm bệnh không sợ roi vọt quan trên, cũng chẳng nể bùa chú của thầy mo; nó chỉ sợ sự sạch sẽ và lòng người bền bỉ. Già này đã nói, rào nứa ba vòng dựng lên là để ngăn tà khí xâm lấn. Ai ở Vòng Đỏ cứ an tâm dưỡng sức, ai ở Vòng Xanh tiếp tục giữ bếp lửa đun nước sôi, tuyệt đối không ai được tùy tiện rời trạm hay uống một ngụm nước lã mé rạch. Giữ vững quy củ, năm ngày sau già này sẽ có câu trả lời cho ông Cả!
Lời dặn dò từ tốn, đanh thép của Cụ Ba như gáo nước mát dập tắt nỗi hoang mang đang nhen nhóm. Đám trai làng nhìn vóc dáng vững chãi của ông già bốc thuốc, ánh mắt hoảng hốt dần dịu lại, từng người gật đầu răm rắp lui về vị trí canh gác.
Trời sập tối nhanh như một cái chớp mắt. Mây mù từ đầm lầy U Minh Hạ cuồn cuộn trôi về, phủ lên cù lao một lớp giá buốt tê tái. Cụ Ba lập tức kéo Bảy Đước và toán thanh niên khỏe mạnh về bệ đất nện Vòng Xanh. Dưới mái lợp lá dừa nước, bảy bộ chõ đất nung Lái Thiêu hai tầng vẫn sừng sững xếp thành hàng ngay ngắn. — Đước, dồn hết củi tràm khô vào đáy lò! Chú Năm, anh Tư giã dập thêm ba sọt lá tràm già với sả chanh, lèn chặt vỉ hấp trên cho tôi! — Cụ Ba xắn cao tay áo bà ba đen, dứt khoát chỉ đạo — Tối hậu thư năm ngày chẳng khác nào lửa đốt ngang mày. Muốn cứu Cỏ Cháy, muốn chặn đứng nọc ngã nước trước khi lính lệ ập tới, ta phải có đủ tinh dầu đánh bạt loài muỗi đòn xóc!
Lửa trong bảy miệng lò bừng lên đỏ rực, tiếng củi tràm nổ lách tách xua tan bóng tối u tịch. Nước trong đáy chõ sôi ùng ục, hơi nóng mang theo tinh chất lá thuốc bốc cuồn cuộn lên vỉ tre, rồi ép mình chui qua những gióng nứa tép già. Dưới máng thân chuối hột ngập nước mát lạnh, làn hơi ấm gặp lạnh ngưng tụ thành từng giọt chất lỏng vàng óng, sóng sánh chảy róc rách vào miệng ve sành.
Cụ Ba không chợp mắt, cả đêm lặn lội canh lửa, gạn váng dầu. Cụ chỉ cho Bảy Đước cách ngửi mùi hơi bốc ra từ kẽ trát đất sét để biết chõ nào non lửa, chõ nào cạn nước. Thằng nhỏ mồ hôi nhễ nhại, hai mắt đỏ hoe vì khói nhưng đôi tay thoăn thoắt châm nước, đảo lá không ngơi nghỉ. Đến khi hừng đông hé rạng sau rặng dừa nước, trên chiếc chõng tre đã xếp chật ních hơn hai chục ve sành và ghè đất nút kín lá chuối khô. Hàng chục lít tinh dầu tràm nguyên chất màu vàng nhạt, trong vắt như mật ong non, bốc lên mùi the nồng thơm ngát, hít một hơi là tinh thần sảng khoái, ngực bụng ấm sực.
Không chần chừ một khắc, Cụ Ba cùng Thím Năm Lệ phân phát dầu tràm tới từng nóc nhà trong số 42 chòi lá nghèo xơ xác trên cù lao. Cụ đích thân ghé từng ngưỡng cửa liếp, ân cần căn dặn: — Chấm dầu này xoa kỹ gáy, cổ tay, mắt cá chân cho con nít nghen thím. Trước khi đi ngủ, nhớ nhỏ vài giọt vào chén nước sôi để khói the xông khắp góc chòi, đuổi sạch muỗi mòng ẩn nấp trong kẹt vách!
Hương tràm ngạt ngào, ấm nồng nhanh chóng lan tỏa khắp các ngõ ngách, quyện chặt lấy bến bãi và ngọn rạch. Đám muỗi đòn xóc vo ve nơi các hốc mục rữa ngửi thấy mùi the gắt liền dạt bay tán loạn ra mé rừng hoang. Chỉ sau hai ngày đêm tinh dầu tràm phủ khắp cù lao, một chuyển biến kỳ diệu đã hiện rõ: không còn một ca ngã nước hay ho nghẹt đờm nào mới phát sinh. Tại Vòng Vàng, những người ốm trước đó đã cắt cơn sốt rét, da dẻ hồng hào trở lại, bắt đầu theo Bảy Đước vót nứa đan sọt. Tiếng cười nói, tiếng khua nồi đồng luộc khăn rộn rã át đi nỗi sợ hãi về trát lệnh năm ngày.
Giữa lúc niềm vui vừa hé nở thì một chiếc xuồng ba lá lướt thốc qua màn sương chiều, cắm mũi vào bến phụ mé rào nứa. Chú Ba Thơ người ướt sũng bùn đất, nhảy vội lên bờ, hấp tấp chạy đến bên Cụ Ba Khiêm: — Cụ Ba... bên xóm Cây Me nguy ngập rồi Cụ ơi!
Cụ Ba đưa cho chú Ba Thơ gáo nước đun sôi để nguội, điềm tĩnh hỏi: — Chú em cứ thở cho lại sức rồi nói. Tình hình ba tá điền bên đó ra sao rồi?
Chú Ba Thơ uống ực một hơi, quẹt ngang miệng, giọng nghẹn ngào pha lẫn căm phẫn: — Khổ lắm Cụ ơi! Ba người đó sốt run cầm cập suốt ngày đêm, nước tiểu đen đặc như dầu hắc quét đáy ghe, mắt vàng ệch ra như nghệ. Vậy mà lão thầy Cả Hối vu cho họ bị quỷ nhập tràng, xúi người nhà nhốt biệt trong căn chòi hoang mé bìa rừng, đóng đinh bít kín cửa nứa! Lão cấm không cho ai đem nước uống hay cháo loãng vào, bảo để quỷ đói tự rút. Suốt hai ngày qua, lão lập đàn gõ mõ đánh chiêng inh ỏi, bắt người bệnh nuốt tro than vẽ máu gà. Một người lên cơn giật cắn phải lưỡi, mê man từ sáng, hai người kia thở hắt ra từng cơn, chắc không qua nổi đêm nay đâu Cụ Ba!

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…