Chum Giấm Cũ Đổi Vị Bữa Cơm Đò
Chương 6: Khói Bếp Chòi Rạ
Cụ Ý nhìn xâu cá bống cát còn tươi rói trên tay Lão Thất, khóe môi khẽ nhếch lên thành một nụ cười kín đáo. Gió chiều thổi lồng lộng qua bến sông, mang theo hơi mặn của nước cùng mùi phù sa ngai ngái. Chống đầu gậy tre xuống nền cát bồi xôm xốp, cụ đón lấy xâu cá từ tay người bạn thuyền năm cũ, giọng khàn khục nhưng rành mạch:
“Cướp chén cơm của ai chứ cướp sao nổi của phường chài lão Thất. Năm xưa một bát canh giấm gừng giải độc đổi lấy một mạng người, nay lão trả ơn bằng xâu cá bống béo múp thế này, bà già này nhận. Chòi rạ này dựng lên chỉ mong kiếm bát cơm độ nhật qua ngày, có đôi ba niêu cá kho, bát canh chua nóng hổi cho cánh đò dọc đò ngang ấm tỳ vị lúc chờ con nước mà thôi.”
Lão Thất vuốt chòm râu cước bạc phơ, ngửa cổ cười khà khà:
“Có cụ Thẩm giữ chòi, bến Vôi này hẳn bớt lạnh lẽo. Dân vạn chài chúng tôi dầm sương dãi nắng trên sông, thèm nhất là hớp nước canh nóng cho ấm cái bụng.”
“Đã vậy, sáng mai thuyền cất lưới sớm, mời lão Thất dẫn mấy anh em ghé qua đây ăn bữa cơm đò mở hàng. Giấm cũ nhà họ Thẩm kho với cá bống bến sông, bảo đảm không làm cánh chài lưới thất vọng đâu.”
Lão Thất sảng khoái gật đầu, vỗ vai Thẩm Văn Hưng một cái thật mạnh rồi xoay người nhảy phắt xuống thuyền, khua mái chèo rẽ sóng ra giữa dòng Nhật Lệ đang nhuộm đỏ ráng chiều.
Hoàng hôn tắt hẳn, màn đêm đặc quánh trùm lên xóm Bến Vôi. Bên trong chòi rạ mới dựng, ánh lửa bập bùng từ chiếc bếp lò đắp tạm hắt lên những vách nứa còn thơm mùi tre tươi. Chiếc chum sành da lươn sau một buổi phơi nắng giòn tan nơi lòng gốm đã được hai anh em Triệu và Hưng khiêng vào đặt vững chãi ở góc chòi, nơi khô ráo và khuất gió nhất.
Cụ Ý chậm rãi bước tới bên chum sành. Cụ đưa tay sờ vào miệng chum, cảm nhận lớp sành mát rượi, khô ráo tinh tươm. Cụ quay sang bảo Thẩm Văn Triệu:
“Anh Triệu, bưng thùng nước vo gạo đã gạn trong suốt buổi chiều lại đây. Nhớ châm nhẹ tay, chớ để cặn đục xao động.”
Thẩm Văn Triệu dạ ran, cẩn thận nghiêng thùng gỗ trút từng dòng nước gạo thơm thoang thoảng vào lòng sành sâu hun hút. Dưới sự chỉ bảo tỉ mỉ của mẹ già, Thẩm Văn Hưng bưng hũ men rượu nếp cái đã giã nhuyễn trộn lẫn chút bột lá tràm hương cùng rễ cỏ tranh khô rải đều lên mặt nước. Cuối cùng, cụ Ý tự tay mở lớp vải điều bọc chiếc liễn đất nung, nâng mảng con giấm cái trắng ngà, dày dặn như tảng mỡ dong thả nhẹ nhàng vào chum.
Con giấm cái chạm nước liền chao đảo một thoáng rồi nổi lơ lửng, bắt đầu hấp thụ dưỡng chất từ dòng nước gạo ngọt lành.
“Đậy nắp vò lại, dùng vải gai bọc kín ba lớp quanh miệng,” cụ Ý dặn dò hai con trai, ánh mắt nhìn vào lòng chum ánh lên niềm tin bền bỉ. “Mẻ giấm thảo mộc này phải ủ qua bảy chu kỳ thảo mộc trong vài tuần tới mới đạt đến sắc vàng hổ phách. Đó là gốc rễ lâu dài của nhà ta. Còn ngày mai, ta dùng phần giấm cốt mồi này.”
Cụ Ý với tay nhấc chiếc vò gốm nhỏ đựng phần giấm cốt ba mươi năm chắt ra ban sáng, đặt cẩn thận vào hốc đất mát nhất sau vách chòi. Mùi giấm cốt phảng phất qua kẽ nút lá chuối khô, chua thanh dịu ngọt, thứ hương vị tinh túy gom góp suốt ba mươi năm gió sương của đời người.
Dưới góc bếp, thằng Khôi đang cời than nướng mấy củ sắn lùi thơm phức, thỉnh thoảng liếc trộm chị gái. Thẩm Tú Anh ngồi co ro trên khúc gỗ mít, hai bàn tay giấu vội dưới vạt áo nâu thô ráp. Cụ Ý bước lại gần, ánh mắt cụ dừng lại nơi bờ vai gầy đang khẽ run rẩy của cháu gái. Khi con bé rụt rè rút tay ra để nhận khúc sắn từ em họ, cụ thấy rõ đôi bàn tay vốn mềm mại nay đỏ ửng, những vết nứt nẻ rớm máu do cọ xát với mặt sành thô ráp và ngâm nước sông lạnh buốt cả buổi chiều. Đầu gối bên trong lớp vải quần thô cũng còn rớm vệt máu khô sau cú trượt ngã trên bến cát.

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…