Chum Mắm Ruốc Đổi Màu Cuối Ngõ Hẻm

Chương 11: Bí Mật Năm 2004

Bà Phụng dùng mảnh vải sạch miết nốt quanh vành chiếc hũ thủy tinh cuối cùng rồi đậy nắp nhôm lại. Tiếng bánh xe vali kéo lẹp xẹp ngoài ngõ bỗng ngừng bặt.

Bà đưa mắt nhìn qua ô cửa gỗ khép hờ trông ra khoảng sân chung rợp bóng cây trứng cá. Dưới vạt nắng chiều xiên khoai, Hạnh bị ông Lành gọi giật lại ngay trước hiên nhà số bảy. Ông già thợ sửa xe đạp vẫn mặc chiếc áo thun ba lỗ bạc màu, miệng ngậm tăm, một tay giữ chặt ghi-đông chiếc xe đạp cũ dựng bên bàn trà, tay kia hoa lên phân bua điều gì đó rất gắt. Bà Phụng chỉ thấy bóng lưng gầy guộc của con gái đứng chôn chân bên cạnh chiếc vali màu xám tro. Con bé không cất bước đi tiếp, đầu hơi cúi xuống, hai vai khẽ so lại dưới vạt áo sơ mi trắng. Cuộc trò chuyện kéo dài đến cả chục phút, cho tới khi tiếng còi xe ôm ngoài đầu hẻm bốn mươi bảy sốt ruột bấm giục giã ba hồi ngắn, Hạnh mới vội vã cúi đầu chào ông lão rồi kéo vali rảo bước ra đường lớn.

Tiếng dép lào lẹp kẹp quen thuộc từ ngoài sân bước thẳng vào hiên nhà số chín.

Ông Lành đẩy tấm liếp che cửa, bước qua bậu cửa gỗ mòn vẹt. Ông nhổ chiếc tăm tre giắt vào kẽ tai, tiện tay với chiếc chén sứ hoa lam sứt quai trên chạn bếp, tự rót cho mình lưng chén nước chè xanh nguội ngắt rồi ngửa cổ hớp một hơi cạn.

Bà Phụng không ngẩng đầu lên, hai tay vẫn thoăn thoắt xếp các hũ mắm vào chiếc rổ tre:

“Ông uống nước chè nguội coi chừng đau bụng.”

“Đau cái nỗi gì, ruột gan tui bằng đồng bằng sắt mấy chục năm nay rồi.” Ông Lành đặt cái chén cộp xuống mặt bàn gỗ, kéo chiếc ghế gỗ thấp ngồi xuống đối diện bà. Ông chép miệng, giọng hơi khàn: “Con Hạnh nó đi rồi. Ra sân bay Tân Sơn Nhất.”

“Tui biết.” Bà Phụng đáp gọn lỏn, giọng phẳng lặng như mặt nước giếng.

“Bà biết cái con khỉ mốc!” Ông Lành quắc mắt, gõ ngón tay gầy guộc xuống mặt bàn. “Tui vừa kể hết cho nó nghe rồi. Cái chuyện năm hai ngàn lẻ tư đó. Tui kể tuốt luốt không chừa một chữ!”

Bàn tay đang xếp hũ mắm của bà Phụng khựng lại giữa chừng. Đôi mắt mờ đục khẽ nheo lại, bà ngước lên nhìn thẳng vào gương mặt nhăn nheo của người hàng xóm:

“Chuyện nhà tui... ông nhiều lời mần chi?”

“Tui không nhiều lời thì để bà ôm cái mớ bí mật đó xuống mồ hả?” Ông Lành hạ giọng nhưng từng lời nằng nặng nỗi bực dọc. “Bà coi con nhỏ kéo vali ra ngõ mà mặt mày tái mét như kẻ mất hồn. Nó ức bà buông lửng câu hỏi rồi bỏ đi, nó tưởng bà ghét bỏ nó, tưởng bà gàn dở tiếc của. Tui ngó không đặng nên mới lôi nó lại mà nói cho ra lẽ.”

Gian bếp trệt lại chìm vào im lặng. Mùi mắm ruốc lên men trong chum sành góc nhà tỏa ra ngây ngấy, quánh đặc trong không khí oi nồng của buổi xế chiều.

Ông Lành thở hắt ra một hơi, giọng chùng xuống:

“Tui bảo với nó: Mày có biết năm hai ngàn lẻ tư ba mày nằm liệt ở Chợ Rẫy, tiền viện phí thuốc men bóp nghẹt cái nhà này tới mức nào không? Lúc đó có bà chủ lò thực phẩm miệt Phú Nhuận xách cả bọc tiền mấy chục triệu bạc — thời giá lúc ấy tính ra cả chục cây vàng lận lưng — tới tận gian bếp này năn nỉ mua đứt công thức muối mắm ruốc gia truyền. Ai trong hẻm cũng ngỡ mẹ mày sẽ bán để lấy tiền cứu mạng chồng. Vậy mà bà Phụng lắc đầu nguầy nguậy. Bà ấy thà chịu tiếng sắt đá, thà để người ta chửi là gàn dở, chứ dứt khoát không bán đi cái nghề của tổ tiên.”

Bà Phụng cúi mặt xuống rổ mắm. Khớp ngón tay ố vàng màu muối khẽ siết chặt vào mép rổ tre. Giọng Huế của bà trầm xuống, nghe khô khốc:

“Bán đi rồi thì còn mặt mũi mô nhìn mẹ tui dưới suối vàng. Huống hồ... ông Sơn trước khi nhắm mắt cũng nắm tay tui dặn phải giữ.”

“Thì tui có trách bà đâu!” Ông Lành vỗ đùi đánh đét. “Nhưng con Hạnh nó đâu có hay biết! Nó cứ nghĩ bà hà tiện, cổ hủ. Tui còn kể cho nó nghe, sau ngày thằng Sơn mất, một thân một mình bà gánh từng hũ mắm đi bán rong khắp hang cùng ngõ hẻm Sài Gòn, tích cóp từng đồng bạc cắc dính đầy mùi tôm muối để trả nợ tiền thuốc thang. Rồi đến năm hai ngàn lẻ tám, ngày con Hạnh thi đỗ Đại học Hà Nội, trọn vẹn mấy triệu bạc đóng học phí kỳ đầu của nó cũng từ cái chum sành này mà chắt chiu ra chứ đâu!”

Nghe đến đó, bà Phụng bỗng thấy hơi thở nghẽn lại nơi cuống họng. Bà nhớ như in buổi sáng mùa thu năm 2008, khi con gái xách túi vải lên chuyến tàu Bắc Nam. Bà chỉ biết lén nhét bọc tiền bọc kín trong tờ báo cũ vào đáy túi của con, dặn con ra ngoài nớ nhớ ăn uống cho đàng hoàng, tuyệt nhiên không hé răng lấy một lời về những trưa nắng chang chang gánh mắm đi bộ rạc cẳng quanh chợ Bà Chiểu để gom cho đủ từng tờ bạc lẻ.

“Nó... nó nói chi?” Bà Phụng ngập ngừng hỏi, giọng khẽ run.

“Nó chẳng nói được lời nào.” Ông Lành thở dài, lắc đầu. “Con nhỏ đứng sững như trời trồng giữa sân, hai mắt đỏ hoe, tay run bần bật nắm chặt cái quai vali. Lúc xe ôm tới giục, nó mới lí nhí cảm ơn tui rồi bước đi mà đầu cứ ngoái lại nhìn cái nóc nhà số chín này mãi. Bà đó, cứ làm như mình cứng cỏi lắm, giấu giếm cho lắm vào rồi mẹ con nhìn nhau như người dưng.”

Đăng nhập để thả tim Đăng nhập để tương tác

Ủng hộ tác giả ai3
Mỗi lời động viên là động lực để tác giả tiếp tục sáng tác.

ai3

Tác giả của câu chuyện này · Hãy cùng ủng hộ những chương tiếp theo.

Đăng nhập để theo dõi

Bình luận chương 0

Đăng nhập để tham gia bình luận.

Đang tải bình luận…