Chum Tương Nếp Cổ Quật Ngã Đại Tiệc Hoàng Triều
Chương 23: Khói Bếp Sông Nhuệ
Gió phương Nam thổi qua thềm rồng Điện Thái Hòa, cuốn theo dải lụa điều bay phấp phới về phía trời cao rực nắng. Cụ Ôn Thừa Hạc thu lại ánh nhìn, khẽ vuốt chòm râu cước, cất bước chân dẻo dai rời khỏi điện ngọc nguy nga. Phía sau lưng cụ, hào quang son thếp, mâm bạc chín tầng cùng những lời tung hô rền vang của triều thần dần lùi xa. Với một lão nông đã trải qua một trăm năm mươi bảy mùa dâu bể, chốn kinh kỳ gấm vóc dẫu rực rỡ đến đâu cũng chẳng thể sánh bằng vạt áo nâu sồng đượm mùi bùn đất và hương lúa đồng quê.
Rời cửa Ngọ Môn lộng gió, chiếc thuyền nan mộc mạc rẽ sóng đưa cụ Ôn, Trần Khang và Thẩm Uyển Nhi xuôi dòng sông Nhuệ. Trên khoang thuyền, chiếc chum tương nếp cổ nghìn ngày được chằng buộc cẩn thận bằng dây thừng bện vỏ đay, trầm mặc đón từng làn gió sông mát rượi. Dọc đôi bờ, những bãi ngô xanh mướt trải dài ngút tầm mắt, sóng nước lăn tăn phản chiếu ráng chiều vàng óng ả. Cụ Ôn ngồi nơi đầu mũi thuyền, tay khẽ chạm vào mặt sành da lươn mát lạnh, cảm nhận nhịp đập bền bỉ của hồn cốt dân gian đang cùng cụ trở về chốn chôn nhau cắt rốn.
Khi bóng rặng tre ngà thân thuộc của thôn Đoài hiện ra nơi khúc quanh dòng nước, tiếng hò reo vang dội từ bến làng đã truyền tới mặt sông. Hàng trăm dân làng thôn Đoài áo nâu nón lá đứng ken dày, tay vẫy nón, tay cầm cờ hội rực rỡ. Những người thợ thủ công chân lấm tay bùn từng run rẩy trước đe dọa của quan binh nay rạng ngời phấn khởi. Nhìn thấy tấm kim bài bằng vàng ròng “Thiên Hạ Đệ Nhất Tương” lấp lánh trên mui thuyền nan và chiếc vại sành cổ bình an trở về, bà con không kìm được những giọt nước mắt nghẹn ngào.
— Cụ về rồi! Cụ Ôn cùng Khang nhi và Uyển Nhi đưa chum tương nếp cổ khải hoàn trở về làng rồi bà con ơi!
Tiếng hò reo, tiếng trống khẩu gõ dồn dập hòa cùng tiếng cười rộn rã làm bừng sáng cả bến nước ven sông. Khang và Uyển Nhi nhanh nhẹn nhảy xuống mạn thuyền, cùng các tráng đinh trong làng cẩn thận luồn đòn tre khiêng chiếc chum nghìn ngày lên bờ. Cụ Ôn mỉm cười đôn hậu, chắp tay đáp lễ từng lời chào hỏi thân thương của bà con lối xóm. Lòng cụ dâng lên một niềm ấm áp khôn cùng khi nhận ra sau muôn trùng bão táp cung đình, làng quê vẫn vẹn nguyên tấm lòng thuần hậu, chở che cho những điều thanh sạch nhất.
Đoàn người rước chum tương về lại khoảng sân gạch thênh thang bên bờ sông Nhuệ. Dưới ánh nắng vàng rực rỡ và ấm áp, đúng một trăm lẻ tám chiếc chum sành Thổ Hà da lươn vẫn đứng sừng sững, trầm mặc hứng trọn tinh hoa sương nắng đất trời. Khắp làng trên xóm dưới rộn rã tiếng chày giã nếp cái hoa vàng thậm thịch, nhịp nhàng như khúc ca no ấm. Mùi xôi nếp chín tới thơm nồng quyện lẫn hương đỗ tương rang giòn rụm tỏa ra từ các chái bếp, xua tan hoàn toàn những ảm đạm của chuỗi ngày bị binh lính Hộ bộ vây ép năm xưa.
Trước bàn thờ tổ nghề bách nghệ thôn Đoài khói hương nghi ngút, cụ Ôn Thừa Hạc trang nghiêm thắp nén nhang thơm bái tạ trời đất và tiền nhân. Toàn thể bà con làng nghề quỳ rạp phía sau, lòng thành kính hướng về hương án. Cụ chậm rãi quay lại, đón lấy chiếc muôi gỗ gụ trăm năm từ tay Khang. Thớ gỗ gụ qua năm tháng đã lên nước bóng lộn, sẫm màu cánh gián, từng múc từng gáo tương thơm nuôi dưỡng bao thế hệ dân lành.
Ánh mắt cụ Ôn dừng lại trên gương mặt cương nghị của Trần Khang và nét rạng rỡ, thông tuệ của Uyển Nhi. Cụ cất giọng sang sảng, ấm áp mà đĩnh đạc:
— Khang nhi, Uyển Nhi, hai đứa lại đây với lão già này!
Đôi trẻ cung kính bước lên, quỳ gối trước mặt cụ. Cụ Ôn ân cần nhìn vết chai dày trên đầu ngón tay của Khang, rồi nhìn đôi mắt tinh anh nhạy bén của Uyển Nhi, chậm rãi nói:

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…