Chuyến Xe Đò Đốt Than Cười Nghiêng Bến Chợ

Chương 1: Nồi Hơi Thức Giấc

Cái công-tắc ắc-quy bật cái “tách”, chiếc quạt con sò gắn sau đuôi xe rên lên một tràng rè rè quen thuộc rồi bắt đầu thổi luồng gió căng tròn vào cửa nạp. Bác tài Hầu Phúc Vượng khom lưng, hai bàn tay thô ráp kẹp chặt thanh cời sắt dài ngoằng thọc sâu vào đáy lò, đảo đều lớp than củi nghiến đang ủ đỏ từ cữ nửa đêm. Chỉ mươi giây sau, tàn lửa đỏ lựng bung lên như đàn đom đóm, một ngọn lửa xanh biếc liếm quanh vách thùng tôn bốn ly, phả ra mùi nhựa nứa nướng cháy ngai ngái xộc thẳng vào mũi. Bác Vượng hít một hơi đẫy đà, chép miệng khoái chí. Với người lạ, cái thứ khói khí than này hăng hắc chẳng khác nào bã thuốc lào cháy dở, nhưng với lão tài già năm mươi sáu tuổi thì đây chính là mùi cơm áo, mùi của sự sống đang trỗi dậy nơi buồng đốt. Chiếc Desoto đời 1954 thùng gỗ đóng chốt sắt gá biển số 22-A-0414 rùng mình đánh thót một cái, luồng khói trắng tinh phì phò nhả ra từ miệng ống xả dã chiến luồn dưới gầm, trông hệt như một chú voi rừng vừa tỉnh giấc nồng giữa cữ sáng tinh mơ.

Quanh bến xe Bến Sỏi, không khí mậu dịch thời Đổi Mới đang rộn rã cựa mình dưới lớp sương sớm lạnh buốt của tháng Mười năm 1987. Tiếng bát đĩa lách cách ở quán bánh đúc nóng đầu bãi, tiếng chổi tre loẹt xoẹt gom vỏ chuối tiêu, hòa cùng tiếng hò hét í ới của cánh lái xe mậu dịch huyện đang giục khách đóng cước. Đất nước bắt đầu chuyển mình sang cơ chế hạch toán, người buôn kẻ bán túa ra bến bãi đông như nêm cối. Chiếc áo gi-lê bảo hộ bạc phếch trên vai bác Vượng đã sờn rách vài chỗ mép túi, nơi cắm ba chiếc tuốc-nơ-vít hai đầu và chiếc bật lửa cối chế từ vỏ đạn đồng. Bác lấy mu bàn tay quệt vệt dầu luyn đen nhánh dính trên cằm, chòm ria mép hoa râm tỉa gọn khẽ nhếch lên khi nhìn đồng hồ đo áp suất khí than bắt đầu nhích kim.

“Bác… bác tài Vượng phải không ạ?”

Một giọng nói rụt rè, ngập ngừng cất lên ngay sau lưng khiến bác Vượng quay người lại. Đứng trước mặt bác là một thanh niên trạc hai mươi ba tuổi, vóc người dong dỏng cao, gầy guộc nhưng bắp tay nổi rõ từng đường gân xanh do lao động nặng. Cậu ta mặc bộ quân phục bạc màu đã tháo quân hiệu, chiếc ba lô con cóc sờn mép ôm chặt trước ngực, dáng đứng hơi nghiêng một bên vì cái chân phải có vẻ bị thọt nhẹ. Bác Vượng nheo mắt nhìn, nếp nhăn nơi khóe mắt xô lại như nan quạt:

“Phải, tao là Hầu Phúc Vượng đây. Chú em hỏi có việc gì? Mua vé lên Mường Khau thì chốc nữa ra bàn mậu dịch đầu bến, xe tao chuyến sáng chưa đến giờ bán vé.”

Cậu lính trẻ nuốt nước bọt đánh ực, gương mặt sạm nắng đỏ bừng lên vì bối rối. Cậu vội vàng đặt chiếc ba lô xuống đất, kéo khóa rồi cẩn thận mở lớp vải dầu bọc kín một bọc đồ bên trong. Đôi bàn tay run run nâng bọc đồ lên trước mặt bác Vượng:

“Dạ không, cháu… cháu đến xin bái sư học nghề ạ! Cháu tên Thược, Lê Văn Thược, lính công binh phục viên ở mặt trận Vị Xuyên về. Suốt ba tháng nằm ở trạm điều dưỡng, cháu nhịn ăn sáng dành dụm phụ cấp mua được bộ này… Cháu xin biếu thầy làm lễ ra mắt, mong thầy nhận cháu làm lơ xe, gánh củi nạp than cho thầy cũng được ạ!”

Bác Vượng cúi xuống nhìn. Nằm ngay ngắn trên tấm vải dầu là một bộ cờ-lê mỏ lết mạ crôm sáng loáng cùng chiếc kìm mỏ quạ Liên Xô bọc chuôi cao su đỏ, từng chiếc cờ-lê từ số mười đến hai mươi hai đều được tra dầu mỡ bảo quản kỹ lưỡng, không dính một hạt bụi. Lòng bác khẽ chùng xuống. Thời buổi này, một bộ đồ nghề kim khí của Liên Xô quý hơn vàng mười, người ta đem ra chợ đen mậu dịch đổi được cả bao gạo trắng chứ chẳng chơi. Thằng nhóc này dám nhịn đói gom góp từng đồng phụ cấp để sắm đồ nghề, chứng tỏ cái bụng nó mê cơ khí thật lòng.

Nhưng nghề ôm vô-lăng đèo dốc hiểm trở không phải chỗ cho lòng trắc ẩn đãi bôi. Bác Vượng hắng giọng một tiếng thật đanh, khoanh tay trước ngực làm bộ gắt gỏng:

“Gớm, chưa chi đã thầy với thợ! Xe tao chạy than củi chứ có phải xe chở cán bộ đâu mà màu mè. Muốn theo tao thì phải qua bài thử đã. Chú mày thấy cái nắp ca-pô đằng kia không?”

Bác hất cằm về phía đầu chiếc Desoto đang hé mở. Thược vội gật đầu. Bác Vượng rút chiếc cờ-lê mười bốn từ bọc vải dúi vào tay Thược, chỉ thị dứt khoát:

“Dây curoa máy nổ hơi chùng, chạy đường đèo cua tay áo máy phát không sạc nổi cho bình ắc-quy đâu. Nới ốc tăng đưa ra, chỉnh lại độ căng rồi siết chặt cho tao xem nào!”

Thược không hề lúng túng. Cậu bước thoăn thoắt tới đầu xe, ghé mắt quan sát góc đặt puly rồi dùng đầu vòng cờ-lê luồn khéo léo qua khe hẹp cạnh cánh quạt gió. Động tác nới ốc tăng đưa rất gọn gàng, dứt khoát. Cậu tì cùi chỏ ghì củ máy phát ra ngoài, ngón tay cái ấn mạnh vào khoảng giữa dây curoa để đo độ võng đúng bằng một lóng tay, rồi một tay giữ cữ, một tay siết ốc chặt đanh. Toàn bộ thao tác chỉ diễn ra trong chưa đầy hai phút, chuẩn chỉ như một người thợ lành nghề.

Bác Vượng đứng tựa lưng vào thùng gỗ, chứng kiến từ đầu đến cuối mà bụng dạ gật gù khen thầm. Cái dáng dấp có tật ở chân nhưng đôi mắt sáng láng, thao tác kim khí lại chuẩn xác không chê vào đâu được. Bác bước lại gần, vỗ bồm bộp vào bờ vai rắn rỏi của chàng lính trẻ:

“Được lắm! Tay nghề khá, không phụ công bộ đội rèn giũa. Từ hôm nay chú mày theo tao làm phụ xe kiêm học việc. Cơm nước tao lo, tháng nào xe chạy đủ chuyến thì có phần trăm tiền vé chặng. Nhưng nhớ lấy, lên xe của tao thì tính mạng hành khách nặng hơn vàng, một con ốc lỏng cũng là một cái tội, nghe chưa?”

Mắt Thược sáng bừng lên, cậu rối rít gập người:

“Dạ! Cháu đội ơn thầy! Cháu xin ghi lòng tạc dạ ạ!”

“Thôi thôi, gọi bác Vượng là được rồi, vẽ chuyện!” Bác xua tay cười sảng khoái, ném cho Thược chiếc giẻ lau dính dầu mỡ. “Cầm lấy ba lô cất lên hộc buồng lái, rồi xách đèn pin xuống gầm xe kiểm tra với tao một lượt trước khi đón khách!”

Hai bác cháu vòng ra sau sườn xe. Bác Vượng cầm chiếc đèn pin vỏ nhôm ba pin chui tọt vào gầm chiếc Desoto. Gầm xe hoán cải là một ma trận cơ khí độc nhất vô nhị: đường ống dẫn khí than làm bằng ống thép mạ kẽm chạy ngoằn ngoèo từ đuôi xe lên khoang động cơ, xen kẽ bình lọc sơ cấp bằng xơ mướp khô và các khớp nối bọc cao su ruột tượng. Bác vừa gõ cộc cộc kiểm tra độ kín của đường ống thì bất thình lình, từ khoảng tối sâu hoắm phía trên háng trục các-đăng truyền lực phát ra một tiếng:

“Hắt… xì… ô-i!”

Âm thanh nghẹt thở vang lên kèm theo tiếng sắt thép cọ quẹt cọt kẹt. Bác Vượng nhíu mày, lia ngay vệt sáng đèn pin lên hốc cầu sau.

Dưới ánh đèn vàng vọt, một bóng người nhỏ thó như củ khoai dong đang bám chặt hai tay hai chân vào thanh giằng sát-xi. Thằng nhóc chừng mười tuổi, đầu đinh cháy nắng khét lẹt, người ngợm đen nhẻm vì muội than và bụi đường, chiếc áo vá chằng chịt rách toác một bên nách. Đôi mắt nó to tròn, láu lỉnh nhưng lúc này đang co rúm lại vì sợ hãi, hàm răng run lên cầm cập.

“Thằng ranh con nào đây? Bước ngay ra ngoài!” Bác Vượng quát to, một tay thò vào túm chặt lấy cạp quần vải thô của nó lôi tuột ra khỏi gầm xe.

Thằng bé ngã dúi dụi xuống bãi đất nện bến xe, Thược vội vàng chạy vòng qua đỡ lấy nó. Thằng nhóc vừa chạm đất đã vội quỳ sụp xuống, hai tay chắp trước ngực van lơn rối rít:

“Bác tài Vượng ơi tha cho cháu! Cháu lạy bác tài Vượng, bác đừng bắt cháu giao cho ban quản lý bến!”

“Mày chui vào háng trục các-đăng từ lúc nào hả?” Bác Vượng chống nạnh, mắt trừng lên nhưng khóe miệng khẽ giật giật nhịn cười vì bộ dạng lem luốc của nó. “Trục các-đăng nó quay tít mù hàng nghìn vòng một phút, xe chạy nửa cây số là nó quấn mày nát như tương bần có biết không? Muốn chết hay sao mà trốn vé kiểu đấy?”

Thằng bé quệt nước mắt, để lại hai vệt trắng bệch trên gò má lem luốc:

“Cháu… cháu không có tiền mua vé ba đồng năm hào. Mẹ cháu mất sớm, bố đi bước nữa đuổi cháu đi, cháu muốn trốn xe lên bến chợ Mường Khau tìm bà ngoại để nương tựa. Cháu chui gầm từ nửa đêm hôm qua… Cháu đói quá nên hắt xì lộ mất… Bác tha cho cháu!”

Thược đứng bên cạnh nghe xong thì chạnh lòng, ánh mắt ái ngại nhìn sang bác Vượng như thầm xin giùm. Bác Vượng nhìn cái bụng lép kẹp đang sôi ùng ục của thằng nhỏ, cơn giận bốc hơi đi đâu sạch. Bác thở dài một hơi, nhưng ngoài mặt vẫn làm bộ nghiêm nghị:

“Lên Mường Khau tìm bà ngoại hả? Được rồi, chuyến này tao cho mày đi nhờ. Nhưng tao không chở không công đứa nào bao giờ! Chú mày tên gì?”

“Dạ… người ta gọi cháu là thằng Cò ạ!” Thằng bé lí nhí.

“Được, thằng Cò! Hình phạt của mày là phải cầm chổi quét dọn sạch sẽ than vụn trên sàn gỗ thùng xe, rồi ngồi canh bao củi phía sau đuôi, cấm chỉ không được thò đầu ra ngoài cửa sổ lúc xe chạy. Làm không sạch thì tới trạm kiểm soát tao vứt xuống đường, rõ chưa?”

Thằng Cò nghe như mở cờ trong bụng, mặt mày rạng rỡ hẳn lên. Nó nhảy cẫng lên một cái, cúi rạp đầu:

“Cháu rõ rồi ạ! Cháu cảm ơn bác tài Vượng! Cháu quét sạch bóng như gương luôn ạ!”

Thược mỉm cười, vỗ vai thằng nhóc rồi dắt nó ra vòi nước công cộng đầu bến rửa mặt, không quên móc trong túi áo ra nửa củ sắn luộc dúi vào tay nó.

Bác Vượng lắc đầu cười tếu táo, quẹt que diêm châm một mẩu thuốc rê phả khói lên trời. Áp suất nồi hơi đã căng, ngọn lửa than củi nghiến đang rực hồng báo hiệu buồng đốt đã sẵn sàng cho một chuyến vượt đèo gần hai trăm cây số. Bác vỗ bồm bộp vào cánh cửa gỗ thùng xe Desoto, chuẩn bị nhấc chân bước lên buồng lái thì…

“Toeee… oẳng! Toeee… toe… toe!”

Một hồi còi hơi chát chúa, the thé vang lên xé toạc bầu không khí yên bình của bến bãi. Âm thanh đanh gắt gầm rú ngay sát sạt sau lưng khiến bác Vượng giật bắn mình, khói thuốc suýt sặc vào cổ họng.

Một chiếc xe khách bốn mươi lăm chỗ đời mới láng cóng, sơn màu đỏ chói lọi của Đội xe thầu chuyến tư nhân Sao Mai rẽ bụi lao tới. Bốn bánh xe gầm rú phanh một tiếng “két” rợn người, dừng sững lại chỉ cách mạn sườn Con Voi Già chưa đầy một gang tay, chẹt nát bấy mấy cành nứa khô rơi vãi dưới đất. Mùi khói dầu diesel nồng nặc, khét lẹt lập tức bốc lên át cả mùi nhựa cây thơm nồng của lò khí than.

Cánh cửa kính buồng lái hạ xuống xoành xoạch. Một khuôn mặt béo núc ních, mái tóc rẽ ngôi chải chuốt bóng lộn dầu chanh thò hẳn ra ngoài. Mùi dầu cù là ngào ngạt phả ra theo từng cái phe phẩy của chiếc quạt nan trên tay gã. Trần Đại Toàn — tức Toàn “Dầu Gió”, chủ nhiệm đội xe Sao Mai — nheo đôi mắt ti hí nhìn chiếc xe than củi, hàm răng bọc vàng lóe lên một nụ cười mỉa mai khinh khỉnh:

“Úi chà chà, tôi tưởng bến Sỏi sáng nay có hội hun chuột chứ! Hóa ra là lão Vượng lại đang đốt lò nướng bánh mì à? Thời buổi hạch toán kinh doanh tới nơi rồi mà vẫn ôm cái đống sắt vụn cổ lỗ sĩ này ra đường bẫy khách thế ông thợ già? Liệu hồn mà tấp vào bãi phế liệu sớm đi, kẻo giữa đèo Gió nó vỡ tung nồi hơi thì có ngày đền mạng cho người ta đấy!”

Đăng nhập để thả tim Đăng nhập để tương tác

Ủng hộ tác giả Vân Vân
Mỗi lời động viên là động lực để tác giả tiếp tục sáng tác.

Vân Vân

Tác giả của câu chuyện này · Hãy cùng ủng hộ những chương tiếp theo.

Đăng nhập để theo dõi

Bình luận chương 0

Đăng nhập để tham gia bình luận.

Chưa có bình luận. Hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận.